@Thái úy Cao Cầu
Ý nghĩa ban đầu của Hoạn không phải người bị Thiến như sau này, mà chỉ là người làm việc, hầu hạ ở công phủ, tư phủ. Thời Chiến Quốc, quý tộc nuôi nhiều Tân khách (môn khách) nên Hoạn mang ý nghĩa là người tiếp đón hầu hạ môn khách. Hơn nữa, không chỉ nhà quý tộc nuôi Tân khách mà cả vua cũng có Tân khách riêng. Những người chuyên tiếp đón phục dịch Tân khách của vua thì gọi là Hoạn quan. Như vậy, người phục dịch nhà quý tộc thì gọi là Hoạn giả (hoặc Hoạn nhân), còn phục vụ vua thì gọi là Hoạn quan.
Thời đó, Hoạn giả hay Hoạn quan hoàn toàn không phải người bị thiến, mà là chỉ những người tùy tùng, hầu cận của nhà vua. Triệu Cao nước Tần là một nhân vật như vậy. Lý Tư liệt truyện chép Cao là “Hoạn nhân”, là người đánh xe cho Tần Thủy Hoàng (tức bộ mặt của vua mỗi khi ra ngoài), bản thân Cao lại có con gái gả cho Diêm Nhạc, lại chép Triệu Cao sao khi giết Hồ Hợi từng muốn tự thân lên làm vua, chừng ấy đủ để nói Triệu Cao hoàn toàn không phải người bị thiến.
Hậu Hán thư - Hoạn giả truyện viết: “Trung hưng chi sơ, Hoạn quan tất dụng yêm nhân” - Thời đầu Trung hưng (tức Đông Hán), hoạn quan tất dùng người bị thiến. Câu này chứng tỏ từ Tây Hán trở về trước, không phải 100% Hoạn quan đều là người bị thiến. Chỉ tới thời Quang Vũ đế, do Hoạn quan thường được tự tiện ra vào nội cung nên mới quy định chỉ lấy người bị thiến làm Hoạn quan, trở thành lệ từ đó trở về sau. Và bởi Hoạn quan chủ yếu ở trong nội cung, nên để phân biệt với các quan trên triều thì Hoạn quan còn được gọi là Nội cung quan (tức Nội quan), hay Trung cung quan (tức Trung quan), không phải tới triều nhà Đường thì mới gọi là Trung quan (như bác X nói).
(Từ đây trở xuống dưới, Hoạn quan sẽ dùng trong bài với nghĩa là người bị thiến.)
Với Hoàng đế mà nói, thân phận Hoạn quan không khác gì nô lệ. Cuối thời Đường, vua Chiêu tông hạ chiếu diệt Hoạn quan, có câu: “Bọn chúng đều là gia thần của trẫm, nếu so với nhà quan viên thì đó là hạng nô lệ”. Cũng phải nói thêm rằng, bởi số lượng người hậu hạ trong cung lớn hơn rất nhiều so với thời cổ, nên không phải ai ai cũng mang danh là hoạn quan. Kẻ hầu hạ bậc thấp chỉ được gọi là Hoạn nhân, Hoạn giả; khi có chức vụ trong cung (hoặc ngoài triều) thì mới gọi là Hoạn quan. Cựu Đường thư - quyển 184 - Hoạn quan truyện chép về Trình Nguyên Chấn, Ngư Triều Ân đều là “dĩ Hoạn giả nhập Nội thị sảnh”, hai vị Đại Hoạn quan này đều đi lên từ thân phận Hoạn giả, vào làm ở Nội thị sảnh rồi mới từ từ có phẩm cấp. Và cái tên Nội thị trở thành một quan danh được từ từ đồng nhất với Hoạn quan, tương tự như Thường thị, Thái giám,... mà ban đầu không hề mang ý nghĩa đó.
II. THƯỜNG THỊ
Thường thị là tên chức quan, viết tắt của Trung thường thị. Thời Tây Hán, Hoàng đế đặt ra chức quan này dành cho các cận thần, phụ trách việc cố vấn, ứng đối, trật Thiên thạch, sau tăng lên Tỷ nhị thiên thạch. Có thể kể đến hai vị Trung thường thị là anh em họ Ban nổi tiếng là Ban Bá và Ban Trĩ (cha của Ban Bưu, ông nội của Ban Cố).
Sang thời Đông Hán, chức Trung thường thị do Hoàng đế thường lấy Hoạn quan đảm nhiệm. Do ảnh hưởng lớn của Thập thường thị trong Tam quốc diễn nghĩa, nên một số người cho rằng cứ Hoạn quan là Thường thị, hoặc nghĩ Thường thị là quan danh của Hoạn quan. Rất sai lầm.
Thường thị đôi khi được sử dụng như một dạng tôn xưng để tỏ ý cung kính với Hoạn quan, giống như các chức võ quan cao cấp thời Tống (Đô chỉ huy sứ) thường được tôn xưng thành Thái úy
Sang thời Ngụy, chức Thường thị được gộp với chức Tán kỵ, trở thành Tán kỵ thường thị, không còn do Hoạn quan riêng đảm nhiệm nữa.
III. NỘI THỊ
Thời Bắc Tề, Hoàng đế lập ra một cơ quan quản lý sự vụ nội bộ cung đình gọi là Trung thị trung sảnh, dùng Hoạn quan làm quan viên gồm các chức Trung thị trung, Trung thường thị trung, Cấp sự trung,... đến đời Tùy đổi thành Nội thị sảnh, rồi đổi thành Trường thu giám, dùng cả Hoạn quan và Sĩ nhân (chức Đại trường thu chắc nhiều người đã nghe nói tới). Chức năng của cơ quan này là hầu hạ Hoàng đế, quản lý việc trong cung thất.
Sang thời Đường, cơ quan này mang tên Nội thị sảnh (có đời gọi là Nội thị giám hoặc Tư cung đài), chuyên dùng Hoạn quan, do Nội thị giám, Nội thị, Nội thường thị làm quan chưởng quản. Cơ quan này có chức năng rộng hơn thời nhà Tùy: truyền đạt chiếu chỉ, giữ cung môn, xuất nhập nội khố, và việc sinh hoạt thường nhật của Hoàng đế; quản lý cả sự vụ ngũ phủ: dịch đình, cung điện, hề quan (lo việc tật bệnh, hình phạt, tang táng của cung nhân), nội bộc, nội phủ.
Thời Tống đặt thêm Nhập nội Nội thị sảnh, sau đổi thành Nhập nội Nội ban sảnh, rồi Nhập nội Hoàng môn ban viện rồi lại trở về Nhập nội Nội thị sảnh. Cơ quan này chuyên việc phục vụ nội bộ cung đình, hợp với Nội thị sảnh gọi là Tiền Hậu sảnh.
Hoạn quan khi mới nhập Nội thị sảnh thì được xưng là Tiểu hoàng môn, sau thăng lên Nội thị hoàng môn. Các chức cao cấp hơn có Nội khách điển sử, Diên phúc quan sử, Tuyên chính sử, Tuyên khánh sử, Chiêu tuyên sử,... Cuối thời Bắc Tống lại đổi thành các chức Đại phu như Thông thị đại phu, Chính thị đại phu, Trung thị đại phu, Trung lượng đại phu, Trung vệ đại phu, Củng vệ đại phu,... nhưng không được tham gia chính sự.
IV. THÁI GIÁM
Thái giám là chức quan cao cấp được đặt ra từ thời Đường, không hề hàm nghĩa Hoạn quan. Phải tới thời nhà Thanh mới dần dần đồng nhất Thái giám với Hoạn quan.