Kiến thức Những Thái Giám, Hoạn quan tài năng nhất lịch sử Việt Nam

Nguyễn Quang 01

Yếu sinh lý
Tao nhớ không nhầm:
- Thái giám là chỉ những người bị hoạn từ nhỏ, được triều đình nuôi free, thường là những đứa trẻ mồ côi, nhà nghèo. Lớn lên làm thái giám phục vụ chuyện Hậu Cung.
- Hoạn quan là chỉ những người:
+ Có vấn đề giới tính: Đồng tính, bóng (gọi chung hoạn quan) để chỉ đối tượng bị miệt thị. Thông thường cứ không lấy vợ là thiên hạ đồn là người đó hoạn quan.
+ Bị triều đình thiến khi ở tuổi trưởng thành: thường là các tướng lĩnh, quan văn do bị vua trừng phạt, thay vì giết luôn thì vua sẽ cảnh cáo bằng cách mang đi hoạn - sống không bằng chết. Dù tội họ không liên quan thông dâm, có thể đánh trận rồi thua nên trốn về, bị triều đình bắt được nên đem thiến.
Tao nhớ không nhầm ở TQ có ông sử gia nổi tiếng Tư Mã Thiên nói sai ý vua nên bị đem đi thiến cho bỏ ghét.

Ở VN, sử ít khi đề cập đến chuyện riêng tư cá nhân nên rất khó biết được tại sao họ lại hoạn, chỉ xếp họ vào nhóm chung với những người tự nguyện hoạn để sỉ nhục.
 

Nam Đế

Tao là gay
@Thái úy Cao Cầu
Ý nghĩa ban đầu của Hoạn không phải người bị Thiến như sau này, mà chỉ là người làm việc, hầu hạ ở công phủ, tư phủ. Thời Chiến Quốc, quý tộc nuôi nhiều Tân khách (môn khách) nên Hoạn mang ý nghĩa là người tiếp đón hầu hạ môn khách. Hơn nữa, không chỉ nhà quý tộc nuôi Tân khách mà cả vua cũng có Tân khách riêng. Những người chuyên tiếp đón phục dịch Tân khách của vua thì gọi là Hoạn quan. Như vậy, người phục dịch nhà quý tộc thì gọi là Hoạn giả (hoặc Hoạn nhân), còn phục vụ vua thì gọi là Hoạn quan.

Thời đó, Hoạn giả hay Hoạn quan hoàn toàn không phải người bị thiến, mà là chỉ những người tùy tùng, hầu cận của nhà vua. Triệu Cao nước Tần là một nhân vật như vậy. Lý Tư liệt truyện chép Cao là “Hoạn nhân”, là người đánh xe cho Tần Thủy Hoàng (tức bộ mặt của vua mỗi khi ra ngoài), bản thân Cao lại có con gái gả cho Diêm Nhạc, lại chép Triệu Cao sao khi giết Hồ Hợi từng muốn tự thân lên làm vua, chừng ấy đủ để nói Triệu Cao hoàn toàn không phải người bị thiến.

Hậu Hán thư - Hoạn giả truyện viết: “Trung hưng chi sơ, Hoạn quan tất dụng yêm nhân” - Thời đầu Trung hưng (tức Đông Hán), hoạn quan tất dùng người bị thiến. Câu này chứng tỏ từ Tây Hán trở về trước, không phải 100% Hoạn quan đều là người bị thiến. Chỉ tới thời Quang Vũ đế, do Hoạn quan thường được tự tiện ra vào nội cung nên mới quy định chỉ lấy người bị thiến làm Hoạn quan, trở thành lệ từ đó trở về sau. Và bởi Hoạn quan chủ yếu ở trong nội cung, nên để phân biệt với các quan trên triều thì Hoạn quan còn được gọi là Nội cung quan (tức Nội quan), hay Trung cung quan (tức Trung quan), không phải tới triều nhà Đường thì mới gọi là Trung quan (như bác X nói).

(Từ đây trở xuống dưới, Hoạn quan sẽ dùng trong bài với nghĩa là người bị thiến.)

Với Hoàng đế mà nói, thân phận Hoạn quan không khác gì nô lệ. Cuối thời Đường, vua Chiêu tông hạ chiếu diệt Hoạn quan, có câu: “Bọn chúng đều là gia thần của trẫm, nếu so với nhà quan viên thì đó là hạng nô lệ”. Cũng phải nói thêm rằng, bởi số lượng người hậu hạ trong cung lớn hơn rất nhiều so với thời cổ, nên không phải ai ai cũng mang danh là hoạn quan. Kẻ hầu hạ bậc thấp chỉ được gọi là Hoạn nhân, Hoạn giả; khi có chức vụ trong cung (hoặc ngoài triều) thì mới gọi là Hoạn quan. Cựu Đường thư - quyển 184 - Hoạn quan truyện chép về Trình Nguyên Chấn, Ngư Triều Ân đều là “dĩ Hoạn giả nhập Nội thị sảnh”, hai vị Đại Hoạn quan này đều đi lên từ thân phận Hoạn giả, vào làm ở Nội thị sảnh rồi mới từ từ có phẩm cấp. Và cái tên Nội thị trở thành một quan danh được từ từ đồng nhất với Hoạn quan, tương tự như Thường thị, Thái giám,... mà ban đầu không hề mang ý nghĩa đó.

II. THƯỜNG THỊ
Thường thị là tên chức quan, viết tắt của Trung thường thị. Thời Tây Hán, Hoàng đế đặt ra chức quan này dành cho các cận thần, phụ trách việc cố vấn, ứng đối, trật Thiên thạch, sau tăng lên Tỷ nhị thiên thạch. Có thể kể đến hai vị Trung thường thị là anh em họ Ban nổi tiếng là Ban Bá và Ban Trĩ (cha của Ban Bưu, ông nội của Ban Cố).
Sang thời Đông Hán, chức Trung thường thị do Hoàng đế thường lấy Hoạn quan đảm nhiệm. Do ảnh hưởng lớn của Thập thường thị trong Tam quốc diễn nghĩa, nên một số người cho rằng cứ Hoạn quan là Thường thị, hoặc nghĩ Thường thị là quan danh của Hoạn quan. Rất sai lầm.

Thường thị đôi khi được sử dụng như một dạng tôn xưng để tỏ ý cung kính với Hoạn quan, giống như các chức võ quan cao cấp thời Tống (Đô chỉ huy sứ) thường được tôn xưng thành Thái úy

Sang thời Ngụy, chức Thường thị được gộp với chức Tán kỵ, trở thành Tán kỵ thường thị, không còn do Hoạn quan riêng đảm nhiệm nữa.

III. NỘI THỊ
Thời Bắc Tề, Hoàng đế lập ra một cơ quan quản lý sự vụ nội bộ cung đình gọi là Trung thị trung sảnh, dùng Hoạn quan làm quan viên gồm các chức Trung thị trung, Trung thường thị trung, Cấp sự trung,... đến đời Tùy đổi thành Nội thị sảnh, rồi đổi thành Trường thu giám, dùng cả Hoạn quan và Sĩ nhân (chức Đại trường thu chắc nhiều người đã nghe nói tới). Chức năng của cơ quan này là hầu hạ Hoàng đế, quản lý việc trong cung thất.
Sang thời Đường, cơ quan này mang tên Nội thị sảnh (có đời gọi là Nội thị giám hoặc Tư cung đài), chuyên dùng Hoạn quan, do Nội thị giám, Nội thị, Nội thường thị làm quan chưởng quản. Cơ quan này có chức năng rộng hơn thời nhà Tùy: truyền đạt chiếu chỉ, giữ cung môn, xuất nhập nội khố, và việc sinh hoạt thường nhật của Hoàng đế; quản lý cả sự vụ ngũ phủ: dịch đình, cung điện, hề quan (lo việc tật bệnh, hình phạt, tang táng của cung nhân), nội bộc, nội phủ.
Thời Tống đặt thêm Nhập nội Nội thị sảnh, sau đổi thành Nhập nội Nội ban sảnh, rồi Nhập nội Hoàng môn ban viện rồi lại trở về Nhập nội Nội thị sảnh. Cơ quan này chuyên việc phục vụ nội bộ cung đình, hợp với Nội thị sảnh gọi là Tiền Hậu sảnh.

Hoạn quan khi mới nhập Nội thị sảnh thì được xưng là Tiểu hoàng môn, sau thăng lên Nội thị hoàng môn. Các chức cao cấp hơn có Nội khách điển sử, Diên phúc quan sử, Tuyên chính sử, Tuyên khánh sử, Chiêu tuyên sử,... Cuối thời Bắc Tống lại đổi thành các chức Đại phu như Thông thị đại phu, Chính thị đại phu, Trung thị đại phu, Trung lượng đại phu, Trung vệ đại phu, Củng vệ đại phu,... nhưng không được tham gia chính sự.

IV. THÁI GIÁM
Thái giám là chức quan cao cấp được đặt ra từ thời Đường, không hề hàm nghĩa Hoạn quan. Phải tới thời nhà Thanh mới dần dần đồng nhất Thái giám với Hoạn quan.
 

mass

Yếu sinh lý
Mày đặt vấn đề như này khá thú vị nhé. Tao ngờ rằng thời đó lính lác bên dưới kỷ luật khá tốt hoặc họ không biết tổng chỉ huy của mình là hoạn quan.
Lý Thường Kiệt là hoạn quan hơi khó khả năng xảy ra, bố ông ấy là Thái Uý không lẽ để con mình làm hoạn quan
 

ditthangbanh

Chim TO
Chủ thớt
@Thái úy Cao Cầu
Ý nghĩa ban đầu của Hoạn không phải người bị Thiến như sau này, mà chỉ là người làm việc, hầu hạ ở công phủ, tư phủ. Thời Chiến Quốc, quý tộc nuôi nhiều Tân khách (môn khách) nên Hoạn mang ý nghĩa là người tiếp đón hầu hạ môn khách. Hơn nữa, không chỉ nhà quý tộc nuôi Tân khách mà cả vua cũng có Tân khách riêng. Những người chuyên tiếp đón phục dịch Tân khách của vua thì gọi là Hoạn quan. Như vậy, người phục dịch nhà quý tộc thì gọi là Hoạn giả (hoặc Hoạn nhân), còn phục vụ vua thì gọi là Hoạn quan.

Thời đó, Hoạn giả hay Hoạn quan hoàn toàn không phải người bị thiến, mà là chỉ những người tùy tùng, hầu cận của nhà vua. Triệu Cao nước Tần là một nhân vật như vậy. Lý Tư liệt truyện chép Cao là “Hoạn nhân”, là người đánh xe cho Tần Thủy Hoàng (tức bộ mặt của vua mỗi khi ra ngoài), bản thân Cao lại có con gái gả cho Diêm Nhạc, lại chép Triệu Cao sao khi giết Hồ Hợi từng muốn tự thân lên làm vua, chừng ấy đủ để nói Triệu Cao hoàn toàn không phải người bị thiến.

Hậu Hán thư - Hoạn giả truyện viết: “Trung hưng chi sơ, Hoạn quan tất dụng yêm nhân” - Thời đầu Trung hưng (tức Đông Hán), hoạn quan tất dùng người bị thiến. Câu này chứng tỏ từ Tây Hán trở về trước, không phải 100% Hoạn quan đều là người bị thiến. Chỉ tới thời Quang Vũ đế, do Hoạn quan thường được tự tiện ra vào nội cung nên mới quy định chỉ lấy người bị thiến làm Hoạn quan, trở thành lệ từ đó trở về sau. Và bởi Hoạn quan chủ yếu ở trong nội cung, nên để phân biệt với các quan trên triều thì Hoạn quan còn được gọi là Nội cung quan (tức Nội quan), hay Trung cung quan (tức Trung quan), không phải tới triều nhà Đường thì mới gọi là Trung quan (như bác X nói).

(Từ đây trở xuống dưới, Hoạn quan sẽ dùng trong bài với nghĩa là người bị thiến.)

Với Hoàng đế mà nói, thân phận Hoạn quan không khác gì nô lệ. Cuối thời Đường, vua Chiêu tông hạ chiếu diệt Hoạn quan, có câu: “Bọn chúng đều là gia thần của trẫm, nếu so với nhà quan viên thì đó là hạng nô lệ”. Cũng phải nói thêm rằng, bởi số lượng người hậu hạ trong cung lớn hơn rất nhiều so với thời cổ, nên không phải ai ai cũng mang danh là hoạn quan. Kẻ hầu hạ bậc thấp chỉ được gọi là Hoạn nhân, Hoạn giả; khi có chức vụ trong cung (hoặc ngoài triều) thì mới gọi là Hoạn quan. Cựu Đường thư - quyển 184 - Hoạn quan truyện chép về Trình Nguyên Chấn, Ngư Triều Ân đều là “dĩ Hoạn giả nhập Nội thị sảnh”, hai vị Đại Hoạn quan này đều đi lên từ thân phận Hoạn giả, vào làm ở Nội thị sảnh rồi mới từ từ có phẩm cấp. Và cái tên Nội thị trở thành một quan danh được từ từ đồng nhất với Hoạn quan, tương tự như Thường thị, Thái giám,... mà ban đầu không hề mang ý nghĩa đó.

II. THƯỜNG THỊ
Thường thị là tên chức quan, viết tắt của Trung thường thị. Thời Tây Hán, Hoàng đế đặt ra chức quan này dành cho các cận thần, phụ trách việc cố vấn, ứng đối, trật Thiên thạch, sau tăng lên Tỷ nhị thiên thạch. Có thể kể đến hai vị Trung thường thị là anh em họ Ban nổi tiếng là Ban Bá và Ban Trĩ (cha của Ban Bưu, ông nội của Ban Cố).
Sang thời Đông Hán, chức Trung thường thị do Hoàng đế thường lấy Hoạn quan đảm nhiệm. Do ảnh hưởng lớn của Thập thường thị trong Tam quốc diễn nghĩa, nên một số người cho rằng cứ Hoạn quan là Thường thị, hoặc nghĩ Thường thị là quan danh của Hoạn quan. Rất sai lầm.

Thường thị đôi khi được sử dụng như một dạng tôn xưng để tỏ ý cung kính với Hoạn quan, giống như các chức võ quan cao cấp thời Tống (Đô chỉ huy sứ) thường được tôn xưng thành Thái úy

Sang thời Ngụy, chức Thường thị được gộp với chức Tán kỵ, trở thành Tán kỵ thường thị, không còn do Hoạn quan riêng đảm nhiệm nữa.

III. NỘI THỊ
Thời Bắc Tề, Hoàng đế lập ra một cơ quan quản lý sự vụ nội bộ cung đình gọi là Trung thị trung sảnh, dùng Hoạn quan làm quan viên gồm các chức Trung thị trung, Trung thường thị trung, Cấp sự trung,... đến đời Tùy đổi thành Nội thị sảnh, rồi đổi thành Trường thu giám, dùng cả Hoạn quan và Sĩ nhân (chức Đại trường thu chắc nhiều người đã nghe nói tới). Chức năng của cơ quan này là hầu hạ Hoàng đế, quản lý việc trong cung thất.
Sang thời Đường, cơ quan này mang tên Nội thị sảnh (có đời gọi là Nội thị giám hoặc Tư cung đài), chuyên dùng Hoạn quan, do Nội thị giám, Nội thị, Nội thường thị làm quan chưởng quản. Cơ quan này có chức năng rộng hơn thời nhà Tùy: truyền đạt chiếu chỉ, giữ cung môn, xuất nhập nội khố, và việc sinh hoạt thường nhật của Hoàng đế; quản lý cả sự vụ ngũ phủ: dịch đình, cung điện, hề quan (lo việc tật bệnh, hình phạt, tang táng của cung nhân), nội bộc, nội phủ.
Thời Tống đặt thêm Nhập nội Nội thị sảnh, sau đổi thành Nhập nội Nội ban sảnh, rồi Nhập nội Hoàng môn ban viện rồi lại trở về Nhập nội Nội thị sảnh. Cơ quan này chuyên việc phục vụ nội bộ cung đình, hợp với Nội thị sảnh gọi là Tiền Hậu sảnh.

Hoạn quan khi mới nhập Nội thị sảnh thì được xưng là Tiểu hoàng môn, sau thăng lên Nội thị hoàng môn. Các chức cao cấp hơn có Nội khách điển sử, Diên phúc quan sử, Tuyên chính sử, Tuyên khánh sử, Chiêu tuyên sử,... Cuối thời Bắc Tống lại đổi thành các chức Đại phu như Thông thị đại phu, Chính thị đại phu, Trung thị đại phu, Trung lượng đại phu, Trung vệ đại phu, Củng vệ đại phu,... nhưng không được tham gia chính sự.

IV. THÁI GIÁM
Thái giám là chức quan cao cấp được đặt ra từ thời Đường, không hề hàm nghĩa Hoạn quan. Phải tới thời nhà Thanh mới dần dần đồng nhất Thái giám với Hoạn quan.
Nhà Tần còn cái bê bối Lao Ái nữa.
 

ditthangbanh

Chim TO
Chủ thớt
Lý Thường Kiệt là hoạn quan hơi khó khả năng xảy ra, bố ông ấy là Thái Uý không lẽ để con mình làm hoạn quan
Cha là An Ngữ, giữ chức Sùng ban lang tướng. Lý giải là lang tướng ở khối sùng ban chứ không phải là Thái Úy đâu. Thái Úy to lắm. Ông thân sinh đi tuần rồi bị bệnh mất lúc Thường Kiệt 13 tuổi.
Xem nội dung: 135690
 

mass

Yếu sinh lý
Cha là An Ngữ, giữ chức Sùng ban lang tướng. Lý giải là lang tướng ở khối sùng ban chứ không phải là Thái Úy đâu. Thái Úy to lắm. Ông thân sinh đi tuần rồi bị bệnh mất lúc Thường Kiệt 13 tuổi.
Xem nội dung: 135690
Tao đọc wiki thì thế này, nói chung Lý Thường Kiệt là dòng dõi cao quý nên ông ấy làm hoạn quan cực khó xảy ra
1- Cha ông làm Thái úy đời Lý Thái Tông, có hai tên khác nhau, theo Đại Việt sử lược chép là Thái úy Quách Thịnh Ích (郭盛謚), còn An Nam chí lược thì chép là Thái úy Quách Thịnh Dật (郭盛溢)[8], quê ở huyện Câu Lậu, Tế Giang (nay thuộc huyện Mỹ Văn, Hưng Yên). Sau được Hoàng đế ban quốc tính, vì vậy Quách Tuấn mới có tên là Lý Thường Kiệt. Theo văn bia của Thái úy Đỗ Anh Vũ, thì cha của Anh Vũ gọi Lý Thường Kiệt là cậu ruột.[9]
2-Họ Ngô: thuyết này dựa theo "Phả hệ họ Ngô Việt Nam" cùng "Thần phổ Lý Thường Kiệt" do Nhữ Bá Sĩ soạn vào thời nhà Nguyễn. Theo cứ liệu này, nguyên danh của ông là Ngô Tuấn (吳俊), biểu tự Thường Kiệt (常傑), sau được ban quốc tính nên có tên là Lý Thường Kiệt. Ông là con của Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ, cháu của Sứ quân Ngô Xương Xí và chắt của Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập – con trai trưởng của Ngô Quyền[5]. Thuyết này được nhìn nhận phổ biến nhất, tuy nhiên lại bị xem là "thuyết mới", vì thời gian của cứ liệu đều còn non, một cuốn phả hệ không rõ nguồn gốc và một thần phổ soạn vào tận thời Nguyễn.
3-
Theo nhận xét của sách Đại Việt sử ký toàn thư, nhà của ông nối đời làm quan theo thức thế tập,[12] tức là truyền chức này vĩnh viễn qua các đời, do đó có thể thấy gia đình của ông là một nhà quan lại có gốc gác bền vững. Từ nhỏ Lý Thường Kiệt đã tỏ ra là người có chí hướng và nghị lực, chăm học tập, rèn luyện cả văn lẫn võ, từng nghiên cứu về binh pháp.[13]

Cũng do hai nguồn khác nhau, nên chức vụ cha của Lý Thường Kiệt cũng khác nhau. Sách Việt điện u linh tập cùng với [nguồn họ Ngô] đều ghi cha của Lý Thường Kiệt tên An Ngữ, và là một "Sùng ban Lang tướng". Sách An Nam chí lược trong quan chế đời Lý có hai tên Sùng ban và Lang tướng, nhưng chính sách ấy chép hai tên này rời nhau. Có lẽ "Sùng ban Lang tướng""Lang tướng thuộc Sùng ban", vì ngay trong sách Chí lược cũng có ghi một chức tên "Vũ nội Lang tướng", nhưng không rõ hai chức vụ này có địa vị thế nào trong triều đình. Còn như [nguồn họ Quách] thì Lý Thường Kiệt là con của Quách Thịnh Ích, là một Thái úy, do đó vị thế có khác biệt.
 

ditthangbanh

Chim TO
Chủ thớt
Tao đọc wiki thì thế này, nói chung Lý Thường Kiệt là dòng dõi cao quý nên ông ấy làm hoạn quan cực khó xảy ra
1- Cha ông làm Thái úy đời Lý Thái Tông, có hai tên khác nhau, theo Đại Việt sử lược chép là Thái úy Quách Thịnh Ích (郭盛謚), còn An Nam chí lược thì chép là Thái úy Quách Thịnh Dật (郭盛溢)[8], quê ở huyện Câu Lậu, Tế Giang (nay thuộc huyện Mỹ Văn, Hưng Yên). Sau được Hoàng đế ban quốc tính, vì vậy Quách Tuấn mới có tên là Lý Thường Kiệt. Theo văn bia của Thái úy Đỗ Anh Vũ, thì cha của Anh Vũ gọi Lý Thường Kiệt là cậu ruột.[9]
2-Họ Ngô: thuyết này dựa theo "Phả hệ họ Ngô Việt Nam" cùng "Thần phổ Lý Thường Kiệt" do Nhữ Bá Sĩ soạn vào thời nhà Nguyễn. Theo cứ liệu này, nguyên danh của ông là Ngô Tuấn (吳俊), biểu tự Thường Kiệt (常傑), sau được ban quốc tính nên có tên là Lý Thường Kiệt. Ông là con của Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ, cháu của Sứ quân Ngô Xương Xí và chắt của Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập – con trai trưởng của Ngô Quyền[5]. Thuyết này được nhìn nhận phổ biến nhất, tuy nhiên lại bị xem là "thuyết mới", vì thời gian của cứ liệu đều còn non, một cuốn phả hệ không rõ nguồn gốc và một thần phổ soạn vào tận thời Nguyễn.
3-
Theo nhận xét của sách Đại Việt sử ký toàn thư, nhà của ông nối đời làm quan theo thức thế tập,[12] tức là truyền chức này vĩnh viễn qua các đời, do đó có thể thấy gia đình của ông là một nhà quan lại có gốc gác bền vững. Từ nhỏ Lý Thường Kiệt đã tỏ ra là người có chí hướng và nghị lực, chăm học tập, rèn luyện cả văn lẫn võ, từng nghiên cứu về binh pháp.[13]

Cũng do hai nguồn khác nhau, nên chức vụ cha của Lý Thường Kiệt cũng khác nhau. Sách Việt điện u linh tập cùng với [nguồn họ Ngô] đều ghi cha của Lý Thường Kiệt tên An Ngữ, và là một "Sùng ban Lang tướng". Sách An Nam chí lược trong quan chế đời Lý có hai tên Sùng ban và Lang tướng, nhưng chính sách ấy chép hai tên này rời nhau. Có lẽ "Sùng ban Lang tướng""Lang tướng thuộc Sùng ban", vì ngay trong sách Chí lược cũng có ghi một chức tên "Vũ nội Lang tướng", nhưng không rõ hai chức vụ này có địa vị thế nào trong triều đình. Còn như [nguồn họ Quách] thì Lý Thường Kiệt là con của Quách Thịnh Ích, là một Thái úy, do đó vị thế có khác biệt.
Dòng cao quý thì không có ai đi làm Hoạn quan đâu. Đặc biệt là là trưởng đích. Bởi vậy mà các tài liệu Hoàng Xuân Hãn tổng hợp đáng tin và logic hơn. Khi đối chiếu với các nguồn khác thì có vẻ khớp.
 

Nam Đế

Tao là gay
Tao đọc wiki thì thế này, nói chung Lý Thường Kiệt là dòng dõi cao quý nên ông ấy làm hoạn quan cực khó xảy ra
1- Cha ông làm Thái úy đời Lý Thái Tông, có hai tên khác nhau, theo Đại Việt sử lược chép là Thái úy Quách Thịnh Ích (郭盛謚), còn An Nam chí lược thì chép là Thái úy Quách Thịnh Dật (郭盛溢)[8], quê ở huyện Câu Lậu, Tế Giang (nay thuộc huyện Mỹ Văn, Hưng Yên). Sau được Hoàng đế ban quốc tính, vì vậy Quách Tuấn mới có tên là Lý Thường Kiệt. Theo văn bia của Thái úy Đỗ Anh Vũ, thì cha của Anh Vũ gọi Lý Thường Kiệt là cậu ruột.[9]
2-Họ Ngô: thuyết này dựa theo "Phả hệ họ Ngô Việt Nam" cùng "Thần phổ Lý Thường Kiệt" do Nhữ Bá Sĩ soạn vào thời nhà Nguyễn. Theo cứ liệu này, nguyên danh của ông là Ngô Tuấn (吳俊), biểu tự Thường Kiệt (常傑), sau được ban quốc tính nên có tên là Lý Thường Kiệt. Ông là con của Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ, cháu của Sứ quân Ngô Xương Xí và chắt của Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập – con trai trưởng của Ngô Quyền[5]. Thuyết này được nhìn nhận phổ biến nhất, tuy nhiên lại bị xem là "thuyết mới", vì thời gian của cứ liệu đều còn non, một cuốn phả hệ không rõ nguồn gốc và một thần phổ soạn vào tận thời Nguyễn.
3-
Theo nhận xét của sách Đại Việt sử ký toàn thư, nhà của ông nối đời làm quan theo thức thế tập,[12] tức là truyền chức này vĩnh viễn qua các đời, do đó có thể thấy gia đình của ông là một nhà quan lại có gốc gác bền vững. Từ nhỏ Lý Thường Kiệt đã tỏ ra là người có chí hướng và nghị lực, chăm học tập, rèn luyện cả văn lẫn võ, từng nghiên cứu về binh pháp.[13]

Cũng do hai nguồn khác nhau, nên chức vụ cha của Lý Thường Kiệt cũng khác nhau. Sách Việt điện u linh tập cùng với [nguồn họ Ngô] đều ghi cha của Lý Thường Kiệt tên An Ngữ, và là một "Sùng ban Lang tướng". Sách An Nam chí lược trong quan chế đời Lý có hai tên Sùng ban và Lang tướng, nhưng chính sách ấy chép hai tên này rời nhau. Có lẽ "Sùng ban Lang tướng""Lang tướng thuộc Sùng ban", vì ngay trong sách Chí lược cũng có ghi một chức tên "Vũ nội Lang tướng", nhưng không rõ hai chức vụ này có địa vị thế nào trong triều đình. Còn như [nguồn họ Quách] thì Lý Thường Kiệt là con của Quách Thịnh Ích, là một Thái úy, do đó vị thế có khác biệt.
Cái này là giả thuyết biện luận cho văn bia liên quan họ Quách
Bản thân đại việt sử lược và an nam chí lược ko có ghi, thuyết trên tổng hợp Thái uý họ Quách trong 2 sách đó để tìm tên cha cụ Kiệt thôi
 

mien xao

Tao là gay
Toàn võ tướng kia mà mày, đéo hiểu k có võ công thượng thừa thì thuộc hạ hay lính nào nó nể
Làm tướng chỉ huy cần gì phải biết võ, người làm tướng quan trọng nhất là bài binh bố trận, chỉ huy quân sĩ chiến đấu chứ có phải trực tiếp chiến đấu đâu, binh lính mà không nghe lệnh thì có quân pháp, thằng nào bướng chặt mẹ đầu xuống là thằng khác rén ngay. Mấy thể loại xông lên hãm trận toàn là tướng vớ vẩn thôi, tướng chỉ huy người ta ngồi ở trung quân có cả 1 rừng lính bảo vệ, việc gì phải trực tiếp đánh nhau
 

ditthangbanh

Chim TO
Chủ thớt
Làm tướng chỉ huy cần gì phải biết võ, người làm tướng quan trọng nhất là bài binh bố trận, chỉ huy quân sĩ chiến đấu chứ có phải trực tiếp chiến đấu đâu, binh lính mà không nghe lệnh thì có quân pháp, thằng nào bướng chặt mẹ đầu xuống là thằng khác rén ngay. Mấy thể loại xông lên hãm trận toàn là tướng vớ vẩn thôi, tướng chỉ huy người ta ngồi ở trung quân có cả 1 rừng lính bảo vệ, việc gì phải trực tiếp đánh nhau
Tao thấy nó đặt vấn đề hay mà. Sĩ khí nó vô cùng quan trọng. Nếu chủ tướng là một hoạn quan thì nó tác động phần nào vào sĩ khí. Vậy tao đặt nghi vấn là: lính lác thời này hoàn toàn không biết chủ tướng của họ là hoạn quan hoặc cách nhìn nhận về hoạn quan thời này thậm chí còn được nâng tầm.
 

mien xao

Tao là gay
Tao thấy nó đặt vấn đề hay mà. Sĩ khí nó vô cùng quan trọng. Nếu chủ tướng là một hoạn quan thì nó tác động phần nào vào sĩ khí. Vậy tao đặt nghi vấn là: lính lác thời này hoàn toàn không biết chủ tướng của họ là hoạn quan hoặc cách nhìn nhận về hoạn quan thời này thậm chí còn được nâng tầm.
Sĩ khí có nhiều cách để tăng lắm, trước hết là quân pháp phải nghiêm, thằng nào lâm trận bỏ chạy là chém luôn, tiếp theo là dùng nhiều cách như bọn TBTQ dùng niềm tin tôn giáo, lại dùng tiền để thưởng, hay trước khi lâm trận cho binh lính uống rượu để tạo hưng phấn.... thời xưa lính chỉ biết chỉ huy trực tiếp chứ có biết chủ soái là ai đâu mà sợ mất sĩ khí, tướng thì cầm quân còn Soái thì cầm tướng, chủ tướng mà trực tiếp dẫn đầu xông trận thì còn nói làm gì
 

ditthangbanh

Chim TO
Chủ thớt
Sĩ khí có nhiều cách để tăng lắm, trước hết là quân pháp phải nghiêm, thằng nào lâm trận bỏ chạy là chém luôn, tiếp theo là dùng nhiều cách như bọn TBTQ dùng niềm tin tôn giáo, lại dùng tiền để thưởng, hay trước khi lâm trận cho binh lính uống rượu để tạo hưng phấn.... thời xưa lính chỉ biết chỉ huy trực tiếp chứ có biết chủ soái là ai đâu mà sợ mất sĩ khí, tướng thì cầm quân còn Soái thì cầm tướng, chủ tướng mà trực tiếp dẫn đầu xông trận thì còn nói làm gì
Mày nói vấn đề tiền có vẻ ổn. Như Hoàng Ngũ Phúc thời kỳ đầu cầm có ít ít quân binh đi dẹp khởi nghĩa phải mượn tiền để mua chuộc sĩ khĩ. Còn hai ông kia không loại trừ khả năng chi huy quân dưới danh nghĩa thay vua.
 

Once

Yếu sinh lý
Chúng mày nói đéo gì nhiều chỉ cần nói đơn giản là Lý Thường Kiệt bị cắt giái hay không vậy thôi
 

ditthangbanh

Chim TO
Chủ thớt
@Nam Đế! tôi thấy có đoạn vua Trân Thái Tông:
Một hôm tan buổi chầu, vua ngự ra ngoài thành, thấy một người con trai theo học ở cửa nam thành, hiành dáng giống hệt người trong mộng, Vua gọi đến hỏi, người đó ứng đối giống như những lời trong mộng.Vua muốn trao cho chức hành khiển, nhưng thấy khó, mới cho 400 quan tiền bảo tự hoạn,

ban tên là Ứng Mộng. Sau này thăng dần đến chức hành khiển. Đó là bằt chước lệ cũ của triều Lý, dùng Lý Thường Kiệt và Lý Thường Hiến vậy.
Thế nào lại cả hai anh em cùng yếm phải không nhỉ?
 

mien xao

Tao là gay
Mày nói vấn đề tiền có vẻ ổn. Như Hoàng Ngũ Phúc thời kỳ đầu cầm có ít ít quân binh đi dẹp khởi nghĩa phải mượn tiền để mua chuộc sĩ khĩ. Còn hai ông kia không loại trừ khả năng chi huy quân dưới danh nghĩa thay vua.
Xưa nay "chim chết vì mồi mà người chết vì tài" mà, trọng thưởng ắt có dũng phu nên thời nào dụng binh cũng cần nhiều ngân lượng.
 

ditthangbanh

Chim TO
Chủ thớt
Mấy ông hoạn quan hùng tài binh lược này có điểm chung là toàn chết vì tuổi tác chứ không phải chết trên chiến trận. Không gái gú, không quyến luyến gia đình, không có điểm yếu luôn. Có lẽ vì thế mà năng lực làm việc cao hơn mấy ông nhiều vợ.
 

ditthangbanh

Chim TO
Chủ thớt

Nhà Tống dùng bao nhiêu quân khi đánh Đại Việt năm 1076?​

Tống sử, bộ chính sử về triều Tống, như thông lệ của sử Trung Quốc xưa có dành ra một số quyển ghi chép về các nước láng giềng, bao gồm Đại Việt đương thời. Tuy nhiên, điều kì lạ là “Giao Chỉ truyện” trong sách này lại bỏ sót một sự kiện rất lớn trong quan hệ hai nước là cuộc chiến 1075-1077 (sau khi chép việc Lý Thánh Tông qua đời năm 1072, sách này nhảy cóc thẳng tới việc trao trả đất đai và tù binh năm 1077). Thế nên tìm thông tin về chiến tranh Tống-Việt lần 2, mà như trọng tâm của bài này là quân số và thiệt hại của phía Tống, là điều không hề dễ dàng. Số liệu trình bày ở dưới là tất cả những gì mình tìm được sau khi lục lọi nhiều nguồn khác nhau.
***

1. Quân số

Quách Quỳ, Triệu Tiết đã đem bao nhiêu quân sang nước ta? Một trong những nguồn để khảo cứu điều này là tác phẩmTục tư trị thông giám trường biênthời Tống(sau đây sẽ viết tắt làTrường biên). Ghi chép của sách này vào ngày 26 tháng 1 âm lịch năm Hy Ninh thứ 9 (tức đầu 1076) cho biết:

  • Ngày Quý Mùi, An Nam Chiêu thảo ty nói: Phát binh 8 vạn, cần chuẩn bị 8.000 vạn cân lương khô cho 10 tháng. Xuống chiếu cho Chuyển vận ty cùng tính toán, nếu như số làm ra có thể tồn lưu được thì dựa theo số lượng tập hợp ở các châu Quế, Toàn.[1]

Tuy thời điểm này chỉ mới 5 ngày sau khi Lý Thường Kiệt công phá thành Ung châu, tin tức chưa báo về triều đình Tống, nhưng với việc chuẩn bị lương thực cho giai đoạn dài như vậy thì có cơ sở để cho rằng 8 vạn binh này không chỉ có nhiệm vụ cứu viện, mà còn phục vụ mục tiêu xa hơn là tấn công sang lãnh thổ Đại Việt. Tiếp đó trong tháng 2 Trường biên lại ghi nhận những đợt điều động như:

  • Ngày Kỷ Sửu, lại xuống chiếu cho Chuyển vận ty các lộ Kinh Hồ Nam, Kinh Hồ Bắc, Quảng Nam Đông đều tính toán tiền gạo để chuẩn bị sử dụng hưng quân ở Quảng Tây, nên lệnh Quảng Đông Chuyển vận ty chuẩn bị 2 vạn người (binh hay phu?), quân lương cho 9 tháng.[2]
  • Xuống chiếu cho các lộ mộ tổng cộng 1 vạn người vũ dũng, đưa đến Quảng Tây sử dụng: Quảng Đông 5.000 người, Phúc Kiến 2.000 người, Giang Tây 3.000 người.[3]
  • Xuống chiếu cho Quảng Đông, Phúc Kiến, Giang Tây mộ binh, lệnh kẻ tù tội, tráng dũng tách riêng thành 1 quân, hợp số mộ được tổng cộng 1 vạn người để chuẩn bị giúp quân của Chiêu thảo ty.[4]

Ở đây có vướng mắc là không rõ những đợt điều động vào tháng 2 là bổ sung thêm, hay là nằm trong dự tính “8 vạn” ban đầu của nhà Tống. Thế nên chỉ có thể đưa ra con số ước lượng cho quân Tống vào khoảng 8 đến 10 vạn binh. Vậy còn số dân phu thì sao?Trường biênchép lại một đoạn trao đổi giữa vua Tống và Quách Quỳ vào tháng 4 về vấn đề này:

  • Ngày Bính Tuất, hoàng thượng phê bọn Quách Quỳ rằng: “Gần đây căn cứ lời tâu của Quảng Tây Chuyện vận sứ Lý Bình Nhất rằng ‘Tương lai đại quân tiến đánh, dùng phu gánh lương hơn 40 vạn. Xin từ [Kinh] Hồ về nam đều sai phái đi trước.’ Đấy rõ là nói ngoa để kinh động nhân tình, lan truyền xa gần rồi lên đến triều đình, rất không được tiện. Bọn khanh có nhiều phương kế, tính chính xác số nhân lực cần để vận chuyển lương thực rồi báo gấp lên.” Quỳ nói:Xem qua lời tâu của Bình Nhất, ước lượng binh 10 vạn người, ngựa 1 vạn con, liệu lương cho người, cỏ cho ngựa hằng ngày mà tính toán số phu chuyên chở là hơn 40 vạn [...] Nay tính toán rằng tương lai vào cõi thì tùy theo lương thảo của quân, trừ số do người ngựa lượng sức tự vác và số do trâu mua tại chỗ gánh […] thì có thể giảm bớt gạo và xe cộ, đồng thời bỏ lại những thứ không cấp thiết trong xe hàng của 9 quân […] Phác họa như thế thì có thể giảm hơn một nửa số dân phu trong lời tâu của Bình Nhất, chỉ dùng 20 vạn người tuần tự chuyên chở, cung ứng lương thực, đồ dùng cho quân.”[5]

Như vậy qua tính toán của Quách Quỳ, con số dự tính ban đầu là 40 vạn phu đã được giảm đi một nửa. Nếu những ghi chép này đúng, thì lực lượng Tống tiến sang nước ta vào khoảng 10 vạn binh, 20 vạn phu. Khi viết về chiến sự ở sông Như Nguyệt,Trường biênmột lần nữa lặp lại con số này:

  • Quỳ cùng các tướng bàn việc cầm đại binh vượt sông, thì các tướng nói: “Chín quân lương thực đã cạn, binh lúc đi thì 10 vạn, phu hơn 20 vạn, dãi nắng dầm mưa, tử vong quá nửa, số còn lại đều bệnh tật.”Quỳ nói: “Ta không thể lật được sào huyệt giặc, bắt sống Càn Đức(tức Lý Nhân Tông)để báo ơn triều đình, là ý trời vậy. Nguyện đem một thân cứu mạng hơn 10 vạn người.”Bèn rút quân, đem biểu đầu hàng của Càn Đức báo lên, hẹn người Giao đợi nghe chỉ.[6]

Tương tự, liệt truyện về Quách Quỳ trongTống sửcũng viết:

  • Bấy giờ binh, phu 30 vạn người, dãi nắng dầm mưa, chết đến quá nửa.[7]

SáchVăn hiến thông khảothời Nguyên đưa ra con số 8 vạn quân, giống như ghi chép ban đầu củaTrường biên:

  • Quan quân 8 vạn, chết đến sáu phần mười, lấy được châu Quảng Nguyên, châu Môn, châu Tư Lãng, châu Tô Mậu và huyện Quang Lang rồi về.[8]

Như vậy, hầu hết các sách Trung Hoa đều xác định số quân Tống sang nước ta năm 1076 vào khoảng 8 đến 10 vạn binh, đi kèm với 20 vạn dân phu.

2. Thiệt hại

Về thiệt hại nhân mạng của quân Tống, sách Việt sử lược của nước ta viết:

  • Hai quân cầm cự nhau hơn tháng trời, Thường Kiệt biết quân Tống đã cạn sức, trong đêm vượt sông tập kích, đại phá được. Tống binh chết đến năm, sáu phần mười, bèn rút về giữ châu Quảng Nguyên.[9]

Con số “năm, sáu phần mười” ở đây khớp với những gìTống sử, Văn hiến thông khảoTrường biênchép kể trên. Cần lưu ý, đây không phải chỉ là tử thương trong chiến trận, mà còn bao gồm số chết vì bệnh tật. Chẳng hạn, có nhiều binh, phu Tống đã bỏ mạng vì bệnh tiêu hóa khi còn chưa đặt chân lên nước ta, một ví dụ cho thấy điều kiện môi trường phương Nam không dễ gì để thích nghi:

  • Ngày Đinh Dậu, hoàng thượng phê: “Trong các quân dưới quyền bốn tướng của An Nam hành dinh đã đến Ung châu, thì vào thượng tuần tháng 9 đã chết bệnh gần 4, 5 nghìn người. Đấy là do chủ tướng, phó tướng đều không biết quản thúc, buông thả cho ăn uống những thứ người phương Bắc kỵ, để đến nỗi sinh bệnh. Phải gấp rút giới nghiêm và trách mắng thầy thuốc, rồi dùng thuốc chữa trị.[10]

Khác với những nguồn trên, sáchNhị Trình di thư, trích dẫn lời Nho gia nổi danh đương thời là Trình Di, lại đưa ra thiệt hại cao ngất ngưởng cho phía Tống:

  • Số vận lương chết 8 vạn, lính chiến bệnh chết 11 vạn, còn lại 2 vạn 8 nghìn sống sốt trở về, đa phần bệnh tật, trước đó lại bị giặc giết mấy vạn, tất cả không dưới 30 vạn người.[11]

Theo như sách này, thì quân Tống mất đến hơn 27 vạn trong tổng số 30 vạn binh phu, chỉ có 28 nghìn người sống sót. Con số này không những không khớp với tất cả những nguồn kể trên, mà còn khá bất hợp lí khi xét đến hình phạt dành cho các tướng Tống (Quách Qùy bị giáng làm Tả Vệ tướng quân, an trí ở Tây Kinh 10 năm; Triệu Tiết bị giáng làm Tri châu Quế châu ở Quảng Tây). Liệu những người chịu trách nhiệm chính cho 27 vạn thương vong, còn lớn hơn thiệt hại Lý Thường Kiệt gây ra trên đất Quảng Tây, lại có thể có một kết cục nhẹ nhàng thế? Thế nên con số của Nhị Trình di thư chỉ được liệt kê ra ở đây để tham khảo, còn bản thân mình thấy nó không đáng tin cho lắm.
 
Bên trên
Tắt Quảng Cáo