Kiến thức Nhà Tần sụp đổ không phải vì Triệu Cao mà vì Mông Điềm ?

daodiemq

Tiến sĩ
Câu hỏi của bạn là một vấn đề lịch sử khá thú vị và tranh cãi. Nhà Tần là một triều đại phong kiến cai trị Trung Quốc từ năm 221 TCN đến 206 TCN, được sáng lập bởi Tần Thủy Hoàng, người đã thống nhất Trung Quốc lần đầu tiên. Nhà Tần có nhiều cải cách và xây dựng công trình lớn như Vạn Lý Trường Thành, nhưng cũng gặp nhiều khó khăn và phản đối từ các chư hầu và nhân dân 1.

Triệu Cao là một quyền thần của nhà Tần, người đã gây ra hai cuộc chính biến lớn là Chính biến Sa Khâu (沙丘之變) và Chính biến cung Vọng Ly (望夷宮之變), làm cho nhà Tần suy yếu và bị các cuộc nổi dậy của các chư hầu và nhân dân đe dọa 2. Triệu Cao thường được coi là nguyên nhân chính của sự sụp đổ của nhà Tần.
Mông Điềm là một quan lại của nhà Tần, người được công tử Phù Tô (con trưởng của Tần Thủy Hoàng) tin tưởng và ủy thác nhiều việc. Mông Điềm cũng là anh của Mông Nghị, một tướng quân giỏi của nhà Tần 3. Mông Điềm bị Triệu Cao ghét bỏ và âm mưu giết hại, vì ông ta có thể ngăn cản kế hoạch của Triệu Cao.

Một số người cho rằng Mông Điềm cũng có vai trò trong việc làm suy yếu nhà Tần, vì ông ta đã không kịp phát hiện ra âm mưu của Triệu Cao và không kịp bảo vệ công tử Phù Tô. Ngoài ra, Mông Điềm cũng bị nghi ngờ là đã tế cáo thần linh khi Tần Thủy Hoàng bệnh nặng, gây ra cái chết của vua 4.
Tuy nhiên, không có bằng chứng rõ ràng để chứng minh rằng Mông Điềm có tội trong việc làm suy yếu nhà Tần. Ngược lại, có thể cho rằng Mông Điềm là một quan lại trung thành và có tài, nếu không bị Triệu Cao ám sát, có thể ông ta sẽ giúp công tử Phù Tô lên ngôi và ổn định triều đại 4.

Vì vậy, câu trả lời cho câu hỏi của bạn là không chắc chắn. Có thể nói rằng Triệu Cao là nguyên nhân trực tiếp của sự sụp đổ của nhà Tần, nhưng Mông Điềm có thể không phải là nguyên nhân gốc rễ. Có nhiều yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến sự suy yếu của nhà Tần, như chính sách độc tài, chiến tranh liên miên, thuế cao, lao động ép buộc, khủng hoảng kinh tế và xã hội .
 

daodiemq

Tiến sĩ
Chủ thớt
Năm 209 TCN, tức là chỉ khoảng 3 năm trước khi nhà Hán ra đời, người Hung Nô đã liên kết lại với nhau thành một liên minh hùng mạnh dưới quyền của một thiền vu (单于) mới có tên gọi là thiền vu Mặc Đốn (冒顿, khoảng 209 TCN-174 TCN). Sự thống nhất về mặt chính trị của người Hung Nô đã làm cho họ trở thành một địch thủ đáng gờm, do họ có khả năng tập trung các lực lượng quân sự lớn và thực hiện tốt hơn việc phối hợp chiến lược. Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến sự liên minh này vẫn chưa rõ ràng. Người ta cho rằng sự thống nhất Trung Quốc đã thúc đẩy các bộ lạc du cư tập hợp lại xung quanh một trung tâm chính trị nhằm củng cố vị thế của họ.[1]. Một giả thuyết khác là sự tái cơ cấu này là cách thức phản ứng của họ đối với khủng hoảng chính trị đã diễn ra đối với họ khi vào năm 215 TCN, khi quân đội nhà Tần do Mông Điềm chỉ huy đã xua đuổi họ ra khỏi các đồng cỏ bên sông Hoàng Hà.[2]

Sau khi hoàn thành việc thống nhất nội bộ, Mặc Đốn mở rộng đế chế của mình ra các phía. Về phía bắc, ông đã chinh phục hàng loạt các bộ tộc du cư, bao gồm cả người Đinh Linh (Sắc Lặc) ở miền nam Siberia. Ông cũng đè bẹp sự kháng cự của người Đông Hồ ở miền đông Mông Cổ và Mãn Châu, cũng như của người Nguyệt Chi trong hành lang Cam Túc. Ngoài ra, ông cũng đã có khả năng khôi phục lại tất cả các vùng đất đã bị tướng của nhà Tần là Mông Điềm đánh chiếm. Trước khi Mặc Đốn chết vào năm 174 TCN thì người Hung Nô đã xua đuổi hoàn toàn người Nguyệt Chi ra khỏi hành lang Cam Túc và khẳng định sự có mặt của họ tại Tây Vực, thuộc Tân Cương ngày nay.
 

daodiemq

Tiến sĩ
Chủ thớt
Năm 201 TCN, Hung Nô tấn công nhà Hán. Hàn vương Tín đầu hàng. Vào mùa đông năm 200 TCN, sau khi vây hãm Thái Nguyên (太原), Hán Cao Tổ Lưu Bang đích thân chỉ huy một chiến dịch quân sự chống lại Mặc Đốn. Tại trận Bạch Đăng (白登, ngày nay là Đại Đồng, Sơn Tây), quân Hán đã bị khoảng 300.000 kỵ binh Hung Nô bao vây. Vị hoàng đế này đã bị cắt nguồn tiếp tế và cứu trợ trong 7 ngày, chỉ có may mắn mới thoát được.

Sau thất bại tại Bình Thành, Lưu Bang từ bỏ giải pháp quân sự đối với mối đe dọa từ phía người Hung Nô. Thay vì thế, năm 198 TCN, một cận thần là Lưu Kính (劉敬) đã được cử đi đàm phán. Giải pháp hòa bình cuối cùng đã đạt được giữa hai bên, bao gồm việc các công chúa nhà Hán sẽ lấy các thiền vu (gọi là hòa thân 和親); các món quà tặng theo chu kỳ cho người Hung Nô, bao gồm tơ lụa, rượugạo; địa vị bình đẳng giữa hai quốc gia và Vạn Lý Trường Thành là biên giới chung.

Thỏa thuận đầu tiên này đã trở thành kiểu mẫu cho quan hệ giữa nhà Hán và nhà nước của người Hung Nô trong khoảng 60 năm. Cho tới năm 135 TCN, thì thỏa thuận này đã được thay đổi không dưới 9 lần, với sự gia tăng của các món "quà tặng" sau mỗi lần thỏa thuận kế tiếp. Năm 192 TCN, Mặc Đốn thậm chí còn đề nghị được cưới Lã Thái hậu. Con trai ông ta và là người kế nghiệp, một người mạnh mẽ tên là Kê Chúc (稽粥, khoảng 174 TCN-160 TCN), còn được biết đến như là Lão Thượng thiền vu (老上單于), vẫn tiếp tục thực hiện các chính sách bành trướng của cha mình. Lão Thượng đã thành công trong việc đàm phán với Hán Văn Đế các điều kiện để duy trì một hệ thống chợ được chính quyền hỗ trợ ở mức độ lớn.
 

daodiemq

Tiến sĩ
Chủ thớt
Nhà Hán đã chuẩn bị cho việc đối đầu quân sự từ thời kỳ trị vì của vua Hán Văn Đế (trị vì từ 180 TCN đến 157 TCN). Sự tuyệt giao diễn ra năm 133 TCN, ngay sau khi có một âm mưu bất thành nhằm đánh úp thiền vu Quân Thần tại Mã Ấp (馬邑). Vào thời điểm này, đế chế Trung Hoa đã trở nên vững chắc về các mặt chính trị, quân sự, tài chính, cũng như phe ủng hộ chiến tranh đang thắng thế tại triều đình. Tuy nhiên, cũng trong năm đó thì Hán Vũ Đế (trị vì từ năm 141 TCN đến năm 87 TCN) đã đảo ngược lệnh mà ông đã đưa ra vào năm trước đó để phục hồi lại thỏa thuận hòa bình.

Mức độ đầy đủ nhất của chiến tranh đã diễn ra vào mùa thu năm 129 TCN, khi 40.000 kỵ binh Trung Quốc đột ngột tấn công người Hung Nô tại các chợ biên giới. Năm 127 TCN, tướng nhà Hán là Vệ Thanh (衛青) tái chiếm Ordos. Năm 121 TCN, người Hung Nô lại phải gánh thêm một thất bại nữa khi Hoắc Khứ Bệnh (霍去病) chỉ huy một đội kỵ binh nhẹ tiến về phía tây của Lũng Tây và trong vòng 6 ngày đã mở đường xuyên qua 5 tiểu quốc của Hung Nô. Năm 119 TCN cả Hoắc Khứ Bệnh và Vệ Thanh, mỗi người chỉ huy khoảng 50.000 kỵ binh và 100.000 bộ binh, và tiến quân theo hai hướng tây-đông, đã ép buộc được thiền vu Y Trĩ Tà (伊稚斜) và toàn bộ triều đình của ông ta chạy về phía bắc của sa mạc Gobi, hữu hiền vương đầu hàng cùng với 40.000 người.[3]. Hoắc Khứ Bệnh tiến quân theo hướng tây, đuổi người Hung Nô tới tận Lang Cư Tư Sơn, còn Vệ Thanh theo hướng đông đánh vào triều đình Hung Nô. Tại phía đông, nhà Hán liên minh với người Ô Hoàn còn tại phía tây vẫn thực hiện chính sách hòa thân.
 

daodiemq

Tiến sĩ
Chủ thớt
Các khó khăn cơ bản đã hạn chế thời gian và sự kéo dài các chiến dịch này là các vấn đề tự nhiên. Theo phân tích của Nghiêm Vưu (嚴尤), các khó khăn này có hai điểm chính. Thứ nhất là vấn đề tiếp tế lương thực, thực phẩm với một khoảng cách lớn. Thứ hai, thời tiết ở các vùng đất miền bắc của người Hung Nô là một rào cản cho các binh sĩ người Hán, những người không bao giờ có đủ sức lực do không hợp thủy thổ.[4]. Theo các báo cáo chính thức, phía Hung Nô mất khoảng từ 80.000 đến 90.000 người, còn trong số 140.000 ngựa mà người Hán đưa tới vùng sa mạc, chỉ còn ít hơn 30.000 quay trở lại tới Trung Quốc.
 

daodiemq

Tiến sĩ
Chủ thớt
Theo Sử ký Tư Mã Thiên, thủy tổ của người Hung NôThuần Duy, con cháu các vua nhà HạTrung Quốc[1]. Vào thời Thương, Chu, Hung Nô cùng các bộ tộc Sơn Nhung, Hiểm Doãn, Huân Chúc định cư ở vùng phía bắc Trung Nguyên. Họ sống theo lối du mục, của cải của họ chủ yếu là các loài gia súc như ngựa, cừu, trâu, lừa... Cho đến nay, người ta chỉ biết rất ít về tiếng nói và chữ viết của người Hung Nô các nguồn tài liệu nói về họ chủ yếu lấy từ sử sách của Trung Quốc. Họ đa số là những người giỏi bắn cung, cưỡi ngựa, đí săn để kiếm sống và sống theo lối du mục, không có nơi ở nhất định. Vào thời nhà Chu, thỉnh thoảng cũng có xảy ra xung đột với các bộ lạc ở phía tây bắc như Khuyển Nhung, Xích Địch, Bạch Địch, Tiên Ngu, Đại Lệ, Nghĩa Cừ, Ô Thị...[2][3][4]. Sang thời Chiến Quốc, các nước Trung Nguyên như Tần, Triệu, Yên cũng nhiều lần giao tranh với quân đội của các bộ lạc này..
Sang thời nhà Tần, Tần Thủy Hoàng tích cực mở rộng thế lực lên phía bắc, cử Mông Điềm trấn thủ phía bắc[5] và cho xây Vạn Lý trường Thành để phòng chống Hung Nô tràn sang. Thời điểm đó Hung Nô không ngừng dẫn quân xuôi dòng Hoàng Hà, xâm nhập vào Trung Nguyên. Có lúc quân tiên phong của họ chỉ cách Hàm Dương vài trăm dặm. Điều này khiến cho vùng biên ải của nước Tần bị uy hiếp nghiêm trọng.

Trong thời gian hơn một năm, Mông Điềm đã chỉ huy quân Tần đánh lui quân Hung Nô ở phía bắc, giành được thắng lợi, mở mang đất đai cho nhà Tần và chiếm được đất, thiết lập quận huyện tại Hung Nô

Sang thế kỉ thứ ba trước Công nguyên, Cuối cùng các bộ tộc này liên kết lại với nhau, thành nhà nước Hung Nô dưới sự chỉ huy của một thiền vu. Vị thiền vu đại tài của Hung Nô vào đầu Thế kỉ II TCB là Mặc Đốn. Ông rèn luyện tất cả các bộ lạc để chuẩn bị cho chiến tranh và luôn chấp hành theo mọi mệnh lệnh của ông. Ông được những người khác tôn trọng và không ai có thể thách thức quyền lực của ông. Sau khi đã sẵn sàng cho chiến tranh, ông bắt đầu các cuộc chinh phục.

Nguyên dưới thời nhà Tần đã cho xây Vạn lý trường thành để ngăn chặn quân Hung Nô tràn sang Trung Nguyên. Nhưng khi nhà Tần suy yếu thì Hung Nô lại được dịp nổi lên. Năm 208 TCN, Mặc Đốn dẫn quân chinh phạt Đông Hồ, đánh bại các bộ tộc khác sống tại miền bắc Trung Nguyên như Đinh Linh, Nguyệt Chi. Sau các cuộc chinh phục này, tất cả các tù trưởng Hung Nô đã chịu phục tùng ông. Hung Nô trở nên lớn mạnh.
Trận Bạch Đăng (tiếng Trung: 白登之戰, Bạch Đăng chi chiến) là trận phục kích và vây hãm núi Bạch Đăng của quân Hung Nô do Thiền vu Mặc Đốn chỉ huy, bao vây quân Hán do Hán Cao Tổ thống lĩnh. Tuy quân Hung Nô phục kích thành công và vây hãm quân Hán, nhưng cuối cùng lại bị mắc lừa và để quân Hán thoát vây. Về phía nhà Hán, trận vây hãm đã làm tiêu tan ý định chinh phạt Hung Nô bằng vũ lực, hình thành biện pháp ngoại giao hòa thân, giao hôn và ban tặng của cải cho phía Hung Nô để đổi lấy hòa bình.
Từ sau khi Tần Thủy Hoàng đánh bại Hung Nô, biên cương phía bắc yên ổn được mười mấy năm. Khi nhà Tần bị diệt, nhân miền Trung Nguyên có cuộc chiến tranh Sở Hán, Hung Nô từng bước lấn xuống phía Nam. Thời Hán Cao Tổ, Thiền vu Mặc Đốn của Hung Nô mang quân bao vây Hàn vương Tín ở đất phong là Mã Ãp. Hàn vương Tín không chống nổi, xin hòa với Mặc Đốn. Hán Cao Tổ được tin, phái sứ giả đến quở trách Hàn vương Tín. Hàn vương Tín sợ bị Hán Cao Tổ trị tội, liền đầu hàng Mặc Đốn. Mặc Đốn chiếm được Mã Ấp, tiếp tục tiến xuống phía nam, bao vây Tấn Dương. Hán Cao Tổ thân đem quân tới Tấn Dương, đối địch với Mặc Đốn.
Nhận được tin Hán đế thân chinh, Mặc Đốn quyết định dùng chiến thuật dẫn dụ đối phương vào nơi hiểm địa để tiêu diệt. Một mặt, ông sai các toán quân già yếu ra giao chiến, giả thua để lừa đối phương; mặc khác, điều tinh binh tăng viện để chuẩn bị đánh quyết định.

Mùa đông năm 200 trước Công nguyên, tuyết xuống nhiều, trời rất lạnh. Quân lính Trung Nguyên chưa từng gặp phải thời tiết lạnh như vậy, nhiều người bị chết rét, có người rụng cả ngón tay vì cóng. Nhưng quân Hán giao chiến mấy trận, quân Hung Nô đều ra vẻ thua. Sau mấy trận thua liên tiếp, nghe nói Mặc Đốn trốn đến Đại Cốc (nay ở tây bắc huyện Đại, Sơn Tây). Hán Cao Tổ vào Tấn Dương, cử người đi trinh sát, đều về báo cáo là quân của Mặc Đốn đều là tàn binh già yếu, ngựa cưỡi rất gầy còm, nếu thừa thế tiến đánh thì nhất định thắng lợi. Hán Cao Tổ sợ những tin tức đó chưa đủ tin cậy nên phái Lưu Kính đến trại Hung Nô dò xét. Lưu Kính về báo cáo: "Thần thấy người ngựa của Hung Nô đúng là đều già yếu. Nhưng thần cho rằng Mặc Đốn nhất định đã cho quân tinh nhuệ mai phục. Xin bệ hạ chớ nên mắc lừa chúng". Hán Cao Tổ nghe thấy, giận dữ mắng: "Ngươi dám nói năng xằng bậy, định ngăn cản ta tiến quân sao?", rồi sai giam Lưu Kính lại.

Quân Hán tiếp tục tiến. Khi Hán Cao Tổ dẫn một cánh quân vừa tới Bình Thành (nay ở đông bắc thành phố Đại Đồng, Sơn Tây); bỗng thấy bốn phía đều có quân Hung Nô xông tới, người ngựa đều khỏe mạnh, chẳng thấy số quân già yếu đâu. Hán Cao Tổ đành dẫn quân mở một đường máu, lui tới núi Bạch Đăng ở Đông nam Bình Thành. Thiền vu Mạo Đồn điều 40 vạn tinh binh vây chặt Hán Cao Tổ ở núi Bạch Đăng, quân Hán xung quanh không thể nào đến tiếp viện. Hán Cao Tổ và số người ngựa đi theo bị vây khốn trên núi suốt bảy ngày đêm, không có cách gì thoát ra được.
Mưu sĩ Trần Bình cùng đi theo Hán Cao Tổ liền cho người mang vàng bạc, châu báu đến gặp yên chi ái thiếp của Mặc Đốn, đề nghị bà ta nói giúp với Thiền vu. Thấy nhiều vàng bạc châu báu như vậy, yên chi của Mặc Đốn rất phấn khởi liền nói với chồng: "Chúng ta chiếm đất đai của người Hán nhưng cũng không thể ở lâu được. Vả lại, thế nào rồi hoàng đế Hán cũng có đại quân tới cứu, chi bằng ta rút quân sớm thì hơn". Mặc Đốn nghe theo, sớm hôm sau, hạ lệnh cho quân Hung Nô mở ra một lối cho quân Hán rút. Nhân lúc sương mù, Hán Cao Tổ dẫn quân lặng lẽ rời khỏi núi Bạch Đăng. Trần Bình còn hạ lệnh cho quân lính sẵn sàng giương cung hướng ra hai bên, bảo vệ cho Hán Cao Tổ xuống núi. Hán Cao Tổ nơm nóp lo sợ, vừa ra thoát vòng vây, liền ra roi chạy thẳng về Quảng Vũ. Sau khi định thần, ông ra lệnh tha Lưu Kính ra, nói: "Ta không nghe theo lời ngươi nên bị Hung Nô vây ở Bạch Đăng Sơn, suýt nữa thì không còn gặp ngươi nữa."
Sau khi thoát khỏi miệng cọp, Hán Cao Tổ biết không đủ lực lượng để đánh Hung Nô, liền trở về Trường An. Sau đó, Hung Nô liên tục xâm phạm phía Bắc khiến Hán Cao Tổ ngày đêm lo lắng. Ông hỏi Lưu Kính nên làm thế nào. Lưu Kính nói: "Tốt nhất là nên áp dụng chính sách hòa thân, tức hai bên giảng hòa, đem con gái gả cho Thiền vu, kết làm thân thích, cùng sống hòa bình với nhau". Hán Cao Tổ nghe theo, phái Lưu Kính sang Hung Nô giảng hòa. Mặc Đốn đồng ý. Hán Cao Tổ chọn một cô gái do cung nữ sinh ra, xưng là công chúa, mang gả cho Mặc Đốn. Mặc Đốn lập nàng làm yên chi. Từ đó, triều Hán áp dụng chính sách hòa thân, tạm thời hòa hoãn quan hệ với Hung Nô.

Chính sách này còn áp dụng cho đến thời Văn đế, Cảnh đế. Thời Vũ đế, Hung Nô suy yếu, Vũ đế cử các đại tướng Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh, Lý Quảng Lợi mang quân đánh cho Hung Nô chạy tới phía bắc sa mạc Gobi.
Năm 202 TCN, sau khi đánh bại được quân Sở do Hạng Vũ chỉ huy, Lưu Bang lên ngôi hoàng đế, lập ra triều đại nhà Hán. Một năm sau đó, 201 TCN, Mặc Đốn mang quân vây đánh Mã Ấp. Quân của Hàn Vương Tín đóng ở Mã Ấp không chống nổi, nhiều lần phải cầu hoà với Mặc Đốn. Lưu Bang sai tướng đi cứu Thái Nguyên, nghe tin Hàn vương cầu hòa Hung Nô, nên nghi Hàn vương làm phản, sai sứ đến khiển trách ông. Hàn Vương Tín quá lo sợ, bèn quay sang đầu hàng Hung Nô, dâng Mã Ấp cho Mặc Đốn và cùng Hung Nô đánh Hán[6].

Mùa đông năm 200 TCN, Hán Cao Tổ đích thân dẫn 32 vạn quân ra quân đánh Hung Nô và nước Hàn, gặp quân Hàn Vương Tín. Hai bên kịch chiến ở Đồng Đề. Hàn vương Tín thua trận bỏ chạy sang Hung Nô. Sau đó quân Hán tiến sang Chí Bình[7] thì gặp và giao chiến với quân của Mặc Đốn gồm 40 vạn tinh binh. Hai bên giao chiến ở Bạch Đăng[8]. Quân Hung Nô chỉ với 300 000 người bao vây 700 000 quân Hán ở Bình Thành. Trước tình thế nguy ngập, Cao Tổ bị cắt nguồn tiếp tế và cứu trợ trong 7 ngày, trong hoàn cảnh rất nguy khốn. Ông theo lời của Trần Bình sai người đến thuyết phục vợ Mặc Đốn là Yên Chi tác động, Mặc Đốn mới rút quân.
Hai năm sau thất bại ở Bình Thành, năm 198 TCN, Hán Cao Tổ quyết định đề nghị giảng hòa, lấy Trường Thành làm giới tuyến giữa hai bên.nhân nhượng họ bằng cách gả con gái các gia đình quý tộc và cung cấp cống phẩm hàng năm cho các tù trưởng Hung Nô để đổi lấy hòa bình giữa hai bên. Theo đó mỗi năm nhà Hán phải cống nộp cho Hung Nô ngũ cốc, lương thực và gả con gái quý tộc cho người Hung Nô. Sử ký còn ghi lại trong những năm từ 192 TCN đến 176 TCN, Mặc Đốn đã được nhà Hán gả cho ba vị công chúa, sang thời con ông ta là Lão Thượng (176 TCN - 162 TCN) thì con số này là hai và đến thời thiền vu Quân Thần thì tiếp tục lấy được 5 vị công chúa nhà Hán.

Những năm tiếp theo, Mặc Đốn tuy ít động binh xuống phía nam nhưng luôn tỏ thái độ khiêu khích. Dưới thời Lã Hậu nắm chính, Mặc Đốn từng gửi một bức thư bị đánh giá là có lời lẽ dâm dật[1] như sau:

Ông vua cô độc buồn rầu, sinh ra ở nơi đầm lầy, lớn lên ở nơi thảo dã bò ngựa, mấy lần đến biên giới muốn chơi Trung Quốc. Bệ hạ[ thì buồn bã một mình. Hai chúa không vui, không có gì để giải buồn. Xin lấy cái có để đổi lấy cái không.
Lã thái hậu đọc thư rất tức giận, định điều binh đánh Mặc Đốn nhưng nghe theo lời Trần Bình, đành thôi.

Sang thời Hán Văn Đế (180 TCN - 157 TCN) vào năm 177 TCN, quân Hung Nô sang xâm phạm biên giới, Văn Đế ra lệnh cho thừa tướng Quán Anh 85000 quân đánh dẹp, tiến vào lãnh thổ Cáo Nô[9], đánh bại và buộc quân Hung Nô rút về.[10]

Sau đó Hán Văn Đế bổ nhiệm thêm Chu Xá làm Vệ tướng quân, Trương Vũ làm Xa kỵ tướng quân đóng ở quanh sông Vị với vài chục vạn quân. Khi Hung Nô lại xâm phạm, ông sai Trương Tương Như, Đổng XíchLoan Bố làm tướng đi đánh, đuổi được Hung Nô ra ngoài biên giới. Ngoài ra hai bên chỉ chạm trán ở một số trận đánh nhỏ và nhà Hán vẫn phải dùng chính sách hòa thân với Hung Nô.
Sau thời Văn Cảnh, nhà Hán phát triển lớn mạnh về chính trị, kinh tế và quân đội. Đến năm 140 TCN, Hán Vũ Đế lên ngôi, quyết định phế bỏ chính sách hòa thân với Hung Nô và bắt đầu tiến hành chiến tranh. Ông phái Lý Quảng trấn giữ quận Yêu Tái, củng cố phòng bị ở phía bắc. Sang năm 138 TCN, Vũ Đế cử Trương Khiên sang Tây Vực kết giao cùng nước Đại Nguyệt để cùng chống Hung Nô. Quá trình chuẩn bị của nhà Hán đã hoàn thành.

Năm 134 TCN, Hung Nô cử sứ thần sang Hán đề nghị hòa thân. Hán Vũ Đế thương nghị việc này với quần thần và cuối cùng quyết định đồng ý hòa thân theo lời Hàn An Quốc.

Năm 133 TCN, theo ý kiến của đại thần Vương Khôi, Hán Vũ Đế quyết định sử dụng chính sách lợi dụng tài vật để dẫn dụ Hung Nô ra quân trước, sai Lý Quảng làm Phiêu kị tướng quân, Công Tôn Hạ làm Kinh Xa tướng quân, Hàn An Quốc làm Hộ quân dẫn 30 vạn quân mai phục ở sơn cốc gần khu vực Mã Ấp[11], và Vương Khôi làm Tương Đồn tướng quân cùng Thái trung đại phu Lý Tức dẫn 3 vạn quân từ Đại Quận [12] ra dụ địch. Nội gián của quân Hán là Niếp Nhất khuyên thiền vu Quân Thần có thể đem thủ hạ giết các quan cai trị ở Mã Ấp và chiếm hết tài vật trong thành này. Quân Thần ham mê tiền tài, nghe lời dụ dỗ của Niếp Nhất bèn đích thân dẫn 10 vạn quân Vũ Châu[13] rồi phái sứ giả đến mưu hại quan cai trị ở Mã Ấp[14]. Tuy nhiên Niếp Nhất trước đó cũng đã thông mưu với quan cai trị Mã Ấp, lấy đầu tên tử tù giả làm đầu của quan cai trị Mã Ấp cho sứ giả đem về.

Thiền vu Quân Thần tưởng việc đã xong bèn tiến quân vào Mã Ấp. Tuy nhiên sau đó thiền vu lại phát giác được âm mưu này nên quyết định lui về. Cánh quân của Hàn An Quốc thấy vậy bèn thay đổi kế hoạch, bỏ mai phục, cho quân truy kích Hung Nô nhưng không thu được kết quả, còn cánh của Vương Khôi rút về. Hán Vũ Đế tức giận bèn tống giam Vương Khôi, sau ép tự sát. Từ đó hai nước tuyệt giao với nhau, Hung Nô lại dẫn quân xâm phạm biên giới với Hán.[1]
Cuộc chiến tranh tiếp diễn vào năm 129 TCN, khi quân Hung Nô xâm lấn vào vùng Thượng Cốc[15] của nhà Hán. Hán Vũ Đế được tin, bèn cử 4 vạn quân chia làm bốn đường, phong Vệ Thanh làm Xa kị tướng quân, tiến vào Thượng Cốc, Công Tôn Hạ tiến đánh Vân Trung, Công Tôn Ngao tấn công Đại quận, Lý Quảng vượt qua Nhạn Môn quan. Cánh quân của Vệ Thanh tiến vào tận vùng Long Thành[16] (kinh đô Hung Nô), chém 700 thủ cấp, còn các cánh quân khác thì không địch lại Hung Nô: Công Tôn Hạ tay không trở về, còn Công Tôn Ngao và Lý Quảng thua trận, Công Tôn Ngao mất 7000 quân còn Lý Quảng bị bắt nhưng sau trốn về được. Tổng cộng trong trận chiến này, quân Hán bị mất 17000 người.
Mùa thu năm 128 TCN, một lần nữa Vệ Thanh dẫn ba vạn kị binh chiến đấu với Hung Nô, xuất kích vào Nhạn Môn Quan[17], giết hơn 1000 quân Hung Nô.

Sang năm 127 TCN, Hán Vũ Đế cử Vệ ThanhLý Tức ra Vân Trung, tiến thẳng đến vùng PHù Lý[18], đánh bại và tiêu diệt hai đạo quân Hung Nô do Bạch Dương Vương và Lâu Phiền Vương chỉ huy, chém và bắt sống hơn 1000 người, thu phục và sáp nhập vùng đất Hà Sáo của Hung Nô mà gần như không mất một binh sĩ nào, toàn quân khải hoàn trở về. Chiến thắng này đã góp phần giải quyết được mối đe dọa đối của Hung Nô với kinh đô Trường An[19]. Tại vùng Hà Sáu, nhà Hán cho thiết lập quận Sóc Phương. Năm sau, Hán Vũ Đế lại sai Tô Kiến đem theo 100000 người tu bổ Trường Thành để ngăn chặn Hung Nô.

Tuy nhiên quân Hung Nô không cam chịu thất bại. Ngay sau khi lên ngôi, thiền vu Y Trĩ Tà lập tức chuẩn bị phát động chiến tranh với Đại Hán lần nữa. Năm 126 TCN, hơn vạn quân Hung Nô được lệnh nam tiến, công đánh Đại Quận, giết thái thú Cung Hữu và bắt hơn 1000 người. Năm 124 TCN, hơn 3 vạn quân Hung Nô lại tràn sang, tiến công vào Đại quận, Định Tương, Thượng Quận. Tướng Hung là Hữu Hiền Vương do oán hận nhà Hán nên cũng nhiều lần tiến vào Hà Sáo, giết chết rất nhiều người dân vô tội. Trước sức mạnh của Hung Nô, Vệ Thanh lại lần được lệnh xuất chinh, dẫn 3 vạn kị binh ra Cao Khuyết, cộng thêm các cánh quân Hán khác là gần 10 vạn người, phối hợp cùng đánh Hung Nô. Vệ Thanh dẫn quân tiến đánh thần tốc, một ngày đi được hơn 6-7 trăm dặm, tiến đánh Hữu Hiền Vương. Hữu Hiền Vương không nghĩ quân Hán lại đến nhanh như vậy nên uống rượu say khướt. Quân Hung Nô không địch nổi quân Hán. Vệ Thanh thừa thắng bắt sống 15000 quân và mười mấy quý tộc Hung Nô, Hữu Hiền Vương bỏ chạy.

Liên tiếp hai lần trong năm 123 TCN, Vệ Thanh thêm hai lần nữa xuất binh công kích vào phía bắc Hung Nô. Trong lần thứ nhất vào mùa xuân, quân Hán hoàn toàn chiếm ưu thế và giành thắng lợi. Tuy nhiên về sau, trong cuộc tiến công vào mùa hạ của Hán, quân Hung Nô cũng có sự chuẩn bị kĩ lưỡng, nên không hoàn toàn bị động. Tuy nhiên cuối cùng họ cũng phải rút lên vùng Sa mạc Gobi.
Năm 121 TCN, Hán Vũ Đế muốn thực hiện kế hoạch đánh chiếm khu vực Hà Tây của Hung Nô để làm bàn đạp tiến công lên phía bắc để đẩy quân Hung Nô ra khỏi Trung Nguyên. Ông cử Hoắc Khứ Bệnh[16][20] đem quân lên phía bắc. Ông chỉ huy một đội kỵ binh nhẹ gồm 1 vạn phiêu kị quân tiến về phía tây của Lũng Tây và trong vòng 6 ngày đã tiến sâu vào 1000 dặm qua 5 tiểu quốc của Hung Nô, giết 9000 quân Hung Nô và bắt được hơn 1000 người.

Sang mùa hè năm đó, Hoắc Khứ Bệnh lại vượt sa mạc và giao tranh với quân Hung Nô trên núi. Quân Hán nhanh chóng nắm ưu thế, tiêu diệt hơn 30000 quân Hung Nô, nhưng cũng bị tổn thất 2800 người. Thiền vu Hung Nô Y Trĩ Tà mặc dù ban đầu rất tức giận về việc này nhưng sau cùng buộc phải đầu hàng nhà Hán. Chiến dịch Hà Tây kết thúc với thắng lợi hoàn toàn thuộc về quân Hán. Nhà Hán chiếm được nhiều đất đai của Hung Nô và thành lập quận huyện ở đó.
Sang mùa xuân năm 119 TCN, Hán Vũ Đế lại cử Vệ Thanh cùng Hoắc Khứ Bệnh mỗi người dẫn 5 vạn kị quân thành hai đường đánh Hung Nô, lại cho hơn 14 vạn ngựa chiến và 50 vạn bộ tốt và hậu cần tiến về sa mạc Gobi. Quân Hán tiến vào Đại Quận, đánh bại quân của Tả Hiền Vương, buộc ông này phải đem 4 vạn quân đầu hàng nhà Hán. Sau đó Vệ Hoắc mỗi người chia quân theo hai phía đông-tây, cánh của Hoắc Khứ Bệnh tiến đánh Đại quận, còn cánh của Vệ Thanh đi về phía đông, thu phục Định Tương.

Vệ Thanh đưa quân đi được về phía bắc gần 1000 dặm thì gặp quân chủ lực của Thiền vu Hung Nô. Ban đầu quân Hán có gặp một số khó khăn nhưng sau đó Vệ Thanh lại ra lệnh dùng thế trận chiến xa và dùng 5000 kị binh phối hợp tạo thành thế trận liên hoàn để đối đầu với quân số đông của Hung Nô, làm quân Hung Nô mất nhuệ khí. Giữa lúc hai bên đang giao tranh thì bỗng có giông tố nổi lên. Vệ Thanh khéo léo lợi dụng sức gió yểm hộ đã cho quân xuất kích, tiến đánh thẳng vào cánh quân của thiền vu. Thiền vu Y Trĩ Tà hoảng sợ, bỏ trốn về phía bắc không dám quay lại, còn quân Hung Nô bị đánh cho đại bại.

Tổng cộng trong trận chiến này, quân Hung Nô bị thiệt hại nặng nề, mất khoảng 8-9 vạn quân, trong khi số thương vong của quân Hán chỉ bằng 1/3. Về phía cánh quân của Hoắc Khứ Bệnh cũng đã giành được chiến thắng, bắt giết 70.000 người Hung Nô, trong đó có Tả Hiền vương và 86 quý tộc Hung Nô.
Sau trận Mạc Bắc, quân Hán cơ bản đã giải quyết xong nạn uy hiếp của Hung Nô. Tuy nhiên hai bên vẫn tiếp tục xảy ra xung đột. Vào năm 115 TCN, người Hán tiếp tục lấn át và lập huyện trên đất Hung Nô, đồng thời lại cử Trương Khiên sang phía tây liên kết với các quốc gia ở đó. Sang năm 112 TCN, Hung Nô liên kết với người Khương tiến công vào quân Ngũ Nguyên, giết chết quan thái thú ở đó. Để đối phó, sang năm 111 TCN, Hán Vũ Đế cho 18 vạn quân đi về phía bắc để gây sức ép với Hung Nô.

Năm 99 TCN, tướng quân Lý Quảng Lợi được lệnh đem 300000 quân lên phía bắc, giao chiến với Hữu hiền vương của Hung Nô ở Kỳ Liên Sơn. Một tướng khác là Lý Lăng đem quân bộ cùng năm nghìn người thiện xạ qua phía Bắc Cư Duyên chừng hơn nghìn dặm.

5000 quân của Lăng bị 80000 quân Hung Nô bao vây. Trước tình thế tuyệt vọng, tên bắn đã hết, lính chết quá nửa, nhưng giết hại quân Hung Nô cũng hơn vạn người, sau đó Lý Lăng vừa rút lui vừa đánh tám ngày liền. Nhưng trên đường về thì lại bị quân Hung Nô chặn đứt lối đường. Quân Lăng thiếu ăn mà cứu binh không tới. Lý Lăng bất đắc dĩ phải đầy hàng Hung Nô. Hán Vũ Đế nghe tin, giết mẹ và vợ con Lăng[21].

Sang năm 90 TCN, Lý Quảng Lợi lại đem quân chinh phạt vùng Ngũ Nguyên. Tuy nhiên cùng lúc ở kinh thành, Hán Vũ Đế nghi ngờ ông ta có âm mưu lập Xương Ấp vương làm thái tử nên bỏ ngục vợ ông ta. Lý Quảng Lợi mất tinh thần, nên không thể địch lại Hung Nô. Quân Hán thiệt hại nặng, thương vong hơn 10000 người. Tư trị thông giám cũng lên tiếng chê trách việc làm này của vua Hán.[22]

Sau thất bại này, Hán Vũ Đế đành phải hạ cố tạ tội với Hung Nô và bị Hung Nô ép phải cống nạp cho mình 10000 thạch mễ tửu, 5000 hộc lương thực.[23]

Tuy nhiên chiến tranh vẫn còn tiếp diễn. Năm 80 TCN, quân Hung Nô mở cuộc tiến công vào nước Ô Tôn. Ô Tôn cử sứ sang nhà Hán cầu cứu. Năm 72 TCN, Hán Tuyên Đế cử quân liên kết với Ô Tôn tiến công Hung Nô, bắt giết 40000 người và nhiều quý tộc.
Những năm tiếp theo, do sự tấn công mãnh liệt từ quân Hán và các nước khác, Hung Nô bước vào giai đoạn suy yếu. Đến năm 53 TCN, thiền vu Hô Hàn Tà phải dâng biểu xin triều phục và cống nộp cho nhà Hán, gửi con trai sang làm con tin. Địa vị chính trị của Hung Nô trong trật tự thế giới của người Hán đã bị hạ từ "quốc gia anh em" xuống thành "ngoại thần".

Bước sang thời nhà Tân, dưới sự cai trị của Vương Mãng, thế lực của Hung Nô tiếp tục đi xuống và bị Trung Quốc khinh rẻ. Từ năm 10 đến 11, Vương Mãng đưa 300000 quân đến biên giới phía bắc, từng bước đẩy lui Hung Nô về sa mạc. Tuy nhiên hòa bình được thiết lập lại khi nhà Hán tái thành lập bởi Hán Quang Vũ Đế. Quang Vũ đế không sử dụng chiến tranh mà dùng chính sách xoa dịu đối với Hung Nô. Từ đó, Hung Nô từng bước phụ thuộc vào nhà Hán. Cùng thời gian đó, một lượng lớn người Hán đã bị ép buộc phải di cư tới các quận này, tại đây các khu định cư hỗn tạp bắt đầu xuất hiện. Đến năm 48, do tranh chấp nội bộ, đất nước Hung Nô bị chia làm hai là Bắc và Nam Hung Nô.

Năm 89 đến 91, đại tướng quân Đậu Hiến đem quân tiến lên phía bắc, diệt Nam Hung Nô, buộc người Hung Nô phải lui về phía tây, sau đó lại đem quân tiến lên đánh Bắc Hung Nô và đẩy lui quân Bắc Hung Nô. 81 bộ tộc Hung Nô đầu hàng nhà Hán. Từ thời điểm này, người Hung Nô bị đẩy ra xa Trung Nguyên và tiếp tục phân hóa, tan rã.
Cuộc chiến tranh Hán - Hung Nô đã dẫn đến nhiều thay đổi trong chính sách quân sự của nhà Hán. Do phải đối đầu với lực lượng quân du mục phương bắc nên từ thời Hán Văn Đế, Hán Cảnh Đế, nhà Hán đã tăng cường huấn luyện kị binh và tăng cường việc chăn nuôi ngựa để phục vụ cho cuộc chiến. Ngoài ra, quân Hán cũng phải chuẩn bị một đội quân hùng hậu chống Hung Nô, làm cho quân lính thường trực tăng lên rất nhiều, bao gồm 400.000 binh sĩ, trong đó bao gồm 80.000 đến 100.000 kỵ binh. Để đáp ứng nhu cầu lương thực cho quân lính, nhà Hán tăng cường thu thập sưu thuế ở các châu quận phía tây.

Về lĩnh vực ngoại giao, cả hai phía đều chủ trương liên kết với các quốc gia bộ lạc khác để tăng cường sức chiến đấu chống lại nhau. Nếu không liên kết được thì họ dùng vũ lực đánh chiếm, như việc Trương Khiên đi sang tây Vực, Hán diệt Dạ Lang hay liên kết với tộc Ô Hoàn. Còn về quan hệ giữa hai bên thì trong giai đoạn đầu, nhà Hán chủ động nhân nhượng hòa hoãn, nhưng sau đó chuyển sang dùng vũ lực, lấn chiếm và uy hiếp, buộc Hung Nô thần phục mình. Đường biên giới giữa hai bên liên tục thay đổi, Hung Nô dần mất Hà Tây và các vùng phía nam sa mạc Gobi, cuối cùng tan rã.
 

daodiemq

Tiến sĩ
Chủ thớt
Mông Điềm (chữ Hán:蒙恬, ?-210 TCN) là danh tướng nhà Tần trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người có công mở mang bờ cõi phía bắc Trung Quốc và chỉ huy việc xây dựng Vạn Lý Trường Thành thời Tần Thủy Hoàng.
Mông Điềm là cháu nội của Mông Ngao, con của Mông Vũ nước Tần thời Chiến Quốc. Mông Ngao từng cùng cha con danh tướng Vương TiễnVương Bí mang quân đánh dẹp các nước chư hầu Sơn Đông, giúp nước Tần thống nhất Trung Quốc, lập ra nhà Tần.

Năm 225 TCN, đại tướng Lý Tín kéo 20 vạn quân xâm lược Sở, Mông Điềm làm phó soái cho Lý Tín. Cả hai bị mắc mưu của Hạng Yên và Xương Bình Quân (nguyên thừa tướng nước Tần) nên bại trận, tổn thất 20 vạn quân và 7 đô úy nên phải rút quân. Tần vương phải cử Vương Tiễn làm thống soái, Mông Vũ làm phó soái, chỉ huy 60 vạn quân xâm lược Sở. Xương Bình Quân tử trận khi giao chiến với Mông Vũ, Hạng Yên tự sát, nước Sở mất từ đây.

Năm 221 TCN, Mông Điềm được phong làm tướng quân. Lúc đó, cuộc chiến tranh giữa các chư hầu đã đi tới hồi kết thúc, thế thống nhất Trung Quốc đã dần hình thành. Trong cuộc chiến cuối cùng diệt Tề, Mông Điềm đã trợ giúp cho Vương Bí và Lý Tín, đánh thắng quân Tề, bắt Tề Vương Kiến phải dâng đất, đầu hàng.
Vương triều nhà Tần được lập, quân đội qui tụ về Hàm Dương, ngựa thả ở Nam Sơn, binh khí cất hết vào kho, không khí hòa bình đã trở lại. Chiến sự ở trung nguyên tuy đã trầm xuống nhưng tình hình biên ải vẫn chưa yên.

Từ thời Chiến quốc, khu vực phía bắc Trung Quốc vẫn do ba thế lực dân tộc thiểu số kiểm soát: Vùng Đông Bắc gọi là Đông Hồ[1], phía bắc gọi là Hung Nô[2], phía tây bắc gọi là Nguyệt Thị[3].

Tần Thủy Hoàng liền sai Mông Điềm làm chánh tướng cầm quân, cùng với con Vương Bí, cháu Vương TiễnVương Ly (王離) làm phó tướng, đưa quân đánh dẹp và trấn thủ biên giới phía bắc.

Trong khi nước Tần khởi binh đánh dẹp trung nguyên thì các dân tộc thiểu số ở đây cũng thừa cơ phát triển. Đông Hồ mạnh mà Nguyệt Thị thịnh. Đầu lĩnh Hung Nô là Đan Vu không ngừng dẫn quân xuôi dòng Hoàng Hà, xâm nhập vào Trung Nguyên. Có lúc quân tiên phong của chúng chỉ cách Hàm Dương vài trăm dặm. Điều này khiến cho vùng biên ải của nước Tần bị uy hiếp nghiêm trọng.

Trong thời gian hơn một năm, Mông Điềm đã chỉ huy quân Tần đánh lui quân Hung Nô ở phía bắc, giành được thắng lợi, không chỉ mở mang cho nhà Tần đất đai ngàn dặm mà còn khống chế được những nơi hiểm yếu ở biên cương, ổn định bờ cõi phía bắc của nhà Tần.
Mông Điềm đánh bại Hung Nô, sau đó trấn thủ Thượng Quận (nay là phía đông nam huyện Du Lâm – Thiểm Tây), bắt đầu việc cai trị biên giới. Trong quá trình chinh phạt, Mông Điềm trước sau chú trọng khai phá vùng biên ải, lấy các vùng đất mới làm thành "Tân Tần Địa", chia thành 44 huyện, cắt đặt quan lại.

Ngoài ra, ông còn điều một lượng lớn dân từ trong nước ra khai khẩn, làm cho trồng trọt và chăn nuôi ở đây thu được những kết quả nhất định. Chính sách "di dân" được áp dụng khiến cho khu vực phía bắc của kinh đô Hàm Dương ngày càng đông đúc, có tác dụng quan trọng trong việc củng cố biên giới.
Dưới sự ủng hộ của Tần Thủy Hoàng, Mông Điềm còn chiêu tập nam đinh trong nước đi xây dựng các tuyến phòng thủ ở những nơi hiểm yếu dọc theo biên giới. Trong vài năm, ở biên giới phía bắc Hàm Dương đã xây dựng được ba tuyến phòng ngự.

  • Tuyến thứ nhất nằm ở Bắc sông Hoàng Hà, giữa núi Âm Sơn và Dương Sơn.
  • Tuyến thứ hai là phía tây, quận Cửu Nguyên, nằm dọc theo phía tây dãy Âm Sơn nối với Trường Thành ở nước Triệu.
  • Tuyến thứ ba chính là Trường Thành có từ thời Tần được điều chỉnh lại.
Trên cơ sở đó, Mông Điềm còn huy động sức dân trong nước xây dựng Trường Thành dọc theo biên giới phía đông. Lúc bây giờ, ở biên giới phía bắc nước Tần, ngoài Trường Thành của nước Tần còn có Trường Thành của nước Triệu và nước Yên còn lại từ thời Chiến Quốc. Phía tây Trường Thành bắt nguồn từ Lâm Thao [4]. Phía đông trải dài tới tận Liêu Đông, dài hơn vạn dặm. Đây chính là Vạn Lý Trường Thành nổi tịếng thế giới ngày nay.
Mông Điềm còn huy động sức dân xây dựng một con đường từ Hàm Dương lên phía bắc để tăng cường mối liên hệ giữa biên cương và nội địa. Con đường này đã khai thông trung tâm của Thiểm Tây với Nội Mông hiện nay, làm cho quan hệ giữa kinh đô Hàm Dương và biên giới phía bắc được củng cố. Dân biên giới khai khẩn trồng trọt, nếu gặp nguy hiểm, binh sĩ trên Trường Thành sẽ đốt lửa báo hiệu, tướng lĩnh dựa vào tình hình thực tế để bố trí quân đội, từ đó có thể điều động binh lính một cách nhanh chóng nhờ con đường mới này. Mông Điềm đã thi hành hàng loạt biện pháp ở vùng biên giới, có tác dụng to lớn đối với việc ổn định biên cương của nhà Tần.

Do có công đẩy lùi Hung Nô, mở rộng bờ cõi đến Du Trung rộng hàng ngàn dặm, hạn chế nguy cơ uy hiếp của Hung Nô nên Mông Điềm rất được Tần Thủy Hoàng sủng ái.

Vài năm sau, nhân việc Tần Thủy Hoàng tàn bạo đốt sách chôn các nhà nho, con cả là Phù Tô can thẳng, liền bị vua Tần điều lên biên giới cùng Mông Điềm trông coi biên cương và giám sát xây Trường Thành.
Năm 210 TCN, Tần Thủy Hoàng đi du tuần phía đông, tới Sa Khâu thì ốm nặng. Biết không qua khỏi, Tần Thủy Hoàng trước lúc lâm chung đã gửi thư cho con trai cả là Phù Tô, dặn: "Giao binh cho Mông Điềm, mau về lo việc tang đưa về Hàm Dương để chôn".

Tuy vậy, sau khi Tần Thủy Hoàng mất, thừa tướng Lý Tư đồng loã với hoạn quan Triệu Cao huỷ di chúc của vua Tần, mạo ra di chiếu giả, lập con thứ của vua là Hồ Hợi lên ngôi, tức là Tần Nhị Thế.

Triệu Cao và Lý Tư viết giả bức thư của Tần Thủy Hoàng gửi cho Phù Tô và Mông Điềm, rồi sai sứ lên Thượng Quận đưa cho hai người. Thư viết:

"Trẫm đi tuần thiên hạ, tế lễ cái thần ở các danh sơn để kéo dài tuổi thọ. Nay Phù Tô cùng tướng quân Mông Điềm cầm quân mấy mươi vạn đồn thú ở biên giới đã hơn mười năm. Không thể tiến quân về phía trước, quân sĩ tổn thất nhiều, không lập được chút công cán gì. Thế mà lại mấy lần dâng thư nói bướng, phỉ báng việc ta làm. Vì cớ không được thôi việc cầm quân để về làm thái tử nên ngày đêm oán hận. Phù Tô là con bất hiếu, cấp cho kiếm để tự sát Tướng quân Mông Điềm cùng Phù Tô ở ngoài không sửa chữa được sai lầm của Phù Tô, thế nào cũng biết mưu mô của Phù Tô. Làm tôi không trung, cũng cho được chết. Hãy giao quân cho phó tướng Vương Ly"
Phù Tô thấy có dấu ấn hoàng đế, ngỡ là thư của cha thật, bèn chạy vào nhà định tự sát. Mông Điềm nhận ra việc khuất tất, bèn chạy vào can Phù Tô:

Nhà vua ở ngoài chưa lập thái tử, cho thần cầm quân 30 vạn giữ biên giới, công tử[5] làm người cai quản, đó là trọng trách trong thiên hạ. Nay mới có một viên sứ giả tới đã tự sát ngay, chắc gì không phải là dối trá? Xin công tử tâu lại lần nữa rồi chết cũng chưa muộn
Sứ giả của Hồ Hợi mấy lần giục, Phù Tô là người ngu trung, bèn tự sát.
Mông Điềm nghi ngờ có sự giả dối, nên không chịu tự sát. Tuy nhiên, việc đó chưa xác thực nên ông không dám khởi loạn. Sứ giả bèn hạ lệnh bắt ông giao cho thuộc lại mang về giam ở Dương châu[6].

Tần Nhị Thế nghe theo lời Triệu Cao, biết mình lên ngôi không chính, nên giết hết các anh chị em và hàng loạt trung thần dưới thời Tần Thủy Hoàng. Trong số các đại thần bị giết có em trai của Mông Điềm là Mông Nghị.

Sau đó, Tần Nhị Thế sai sứ mang chiếu và gươm tới ngục ở Dương Châu bắt ông tự sát.
 

daodiemq

Tiến sĩ
Chủ thớt
Nước Tần phải trải qua mấy đời cố gắng không ngừng mới có thể đoạt được thiên hạ, nhưng lại chỉ kéo dài 14 năm, tức là đến đời vua thứ hai thì chấm dứt. (Nhà Tần: Năm 221 TCN – Năm 207 TCN)

Mà Lưu Bang vốn chỉ là một người dân bình thường lại chỉ qua vài năm ngắn ngủi đã lập nên nhà Hán, tiếp nối chế độ nhà Tần, duy trì đến vài trăm năm.

(Nhà Tây Hán: Năm 202 TCN- Năm thứ 9 sau Công nguyên; Nhà Đông Hán: Năm 25 sau Công nguyên – Năm 220 sau Công nguyên)

Sau khi nhà Tần diệt vong, nhà Hán tiếp nối nhà Tần, tiếp tục thực hiện chế độ tập quyền trung ương, vẫn phân chia các vùng như trước, nhưng lại tạo ra kết quả khác biệt? Lý do cụ thể như sau:
Từ thời Xuân Thu tranh bá, đến Chiến Quốc chiến loạn tổng cộng khoảng bốn trăm, năm trăm năm lịch sử, mối quan hệ giữa nhà Tần cùng sáu quốc gia khác, trên là quân vương dưới là bách tính đều có vô số mâu thuẫn thù hận, quá trình nhà Tần thống nhất đất nước hay nói cách khác là quá trình chinh phục và nô dịch.

Nhà Chu duy trì chế độ phân phong gần nghìn năm, các quốc gia thời Chiến Quốc đều là những quốc gia đã có căn cơ vững chắc, tồn tại từ vài chục đến vài trăm năm, thế lực phức tạp rối ren, có sức ảnh hưởng nhất định không thể xóa bỏ trong một sớm một chiều, mà cần phải qua cả một quá trình lâu dài.

Nhà Tần dù đã tiêu diệt được cả sáu nước, nhưng dân chúng các quốc gia ấy vẫn ở đó, dù xét về tâm lí hay về tình cảm thì họ cũng khổng thể dễ dàng chấp nhận việc quốc gia mình bị thôn tính. Thực ra, đối với người dân, ai có thể đem đến cho họ cuộc sống tốt đẹp thì người ấy chính là người tốt, trước đây vốn còn có thể xoay sở mà sống, nay lại không thể sống nổi, chắc chắn sẽ nảy sinh tưởng niệm với cố quốc ngày xưa.
Mà nhà Tần lại không đề ra những phương pháp nhằm an dân, khiến cho nhân dân các quốc gia khác đều tưởng nhớ cố quốc của mình, bài xích nhà Tần, cho rằng nhà Tần chính là kẻ xâm lược, một thế lực phi chính nghĩa, nhân dân các nước tự nhận mình là những nô lệ mất nước, lòng dân dao động không yên.

Hơn thế, trong quá trình nhà Tần thực hiện chế độ trung ương tập quyền, chia thành các quận huyện để cai quản, vừa bắt đầu đã tiến hành một cách triệt để, sử dụng bạo lực để trấn áp, không coi nhân dân sáu nước khác là con người, đối xử tàn bạo. Mà nhà Hán lại có cách làm nhẹ nhàng hơn, chế độ chia quận huyện cũng được tiến hành theo từng bước, thậm chí đến bước chế định cuối cùng cũng không thể triệt để như nhà Tần đã làm.
Nhà Tần là quốc gia theo chế độ quân chủ chuyên chế, mọi mặt thể chế đều xoay quanh các cuộc chiến tranh. Thông qua việc chặt đầu, chém giết để hoàn thiện thể chế, trong thời bình, cách này tất yếu không mang lại lợi ích, áp dụng trong thời kỳ chiến tranh thì có thể mang lại hiệu quả, nhưng trong thời bình, nếu về lâu dài, ắt sẽ dẫn đến dân chúng nổi dậy đấu tranh.

Sau khi nhà Tần thống nhất đất nước, vấn đề nhà Tần cần giải quyết chính là việc thay đổi chính sách chính trị, tức là từ một quốc gia coi chiến tranh là trọng tâm, đổi thành một quốc gia lấy việc cai trị đất nước làm trọng tâm. Nhưng đáng tiếc là nhà Tần lại không làm điều ấy, mà vẫn cứ tiếp tục duy trì chủ nghĩa quân chủ tập quyền, thậm chí còn áp dụng lên cả sáu nước khác, khiến cho dân chúng vô cùng phẫn nộ, bất mãn.

Vốn dĩ việc chinh phạt được sáu nước sẽ mang đến vô hạn đất đai, tài phú cùng dân chúng, có thể lấp đầy quốc khố, khích lệ binh lính, còn có thể dùng để thưởng phạt khích lệ.

Mà nhà Tần sau khi thống nhất các quốc gia, khi việc cai trị đất nước vẫn chưa đạt hiệu quả đã lại bắt đầu cho xây dựng hàng loạt công trình, tu sửa Trường thành, gây chiến tranh… những việc này đều không thu được ích lợi gì. Cho dù những công trình này đều sẽ mang lại lợi ích về lâu dài, nhưng với quy mô to lớn như vậy, lúc bấy giờ đều vô cùng hao phí, tốn của tốn công.
Pháp luật không được cải cách, chế độ cứng nhắc, tham quan hoành hành, với tình hình như vậy, một khi Tần Thủy Hoàng qua đời, thiên hạ tất sẽ đại loạn.

Nhà Tần diệt vong, nhà Hán thay thế, từ những sai lầm của nhà Tần, Vương triều Đại Hán đã có những chính sách hoàn toàn trái ngược với nhà Tần, mở đầu là việc thay đổi các chính sách chính trị như: Để các binh lính trong quân đội tham gia vào lao động sản xuất; đối với phương pháp cai trị đất nước, áp dụng tư tưởng Hoàng Lão, chủ trương thanh tĩnh vô vi, cho dân nghỉ ngơi, nới tay trị dân. Đây không phải là ý tưởng tình cờ hay ngoài ý muốn, mà là sự đồng nhất tư tưởng sau khi đã cân nhắc kỹ càng, được ghi chép lại rõ ràng trong các tư liệu lịch sử.
Chế độ quận huyện là hình thức đầu tiên cho chế độ trung ương tập quyền. Nhưng vì đây là nhà nước trung ương tập quyền đầu tiên của Trung Quốc, nên cũng chưa thực sự hoàn thiện, điểm không hoàn hảo ở đây là việc phân chia quyền lực.

Mỗi một địa phương đều có những thế lực riêng, khi họ không được chia quyền lực mà lại nắm trong tay một thế lực nhất định, sẽ nghĩ đến việc nổi dậy lật đổ chính quyền, đoạt thiên hạ, hoặc ít nhất là tự lập đất cai trị.

Thời nhà Tần, các quý tộc cũ của Sở quốc vì không được phân chia quyền lực, đã tự mình nổi dậy dấy binh tạo phản.

Trong diễn tiến chế độ của Trung Quốc cổ đại, một trong các hướng đi quan trọng chính là việc củng cố chế độ phân chia quyền lực. Từ việc Hoàng đế ban mệnh lệnh, đến các cơ quan kiểm tra, thực hiện, đến chế độ cửu phẩm trung chính, đến chế độ khoa cử. Trên thực tế chính là không ngừng mở rộng, thể chế hóa phạm vi phân chia quyền lực. Thời nhà Tần, nếu có chế độ khoa cử, thì các quý tộc cũ nước Sở cũng chưa hẳn đã dấy binh tạo phản. Việc phân chia quyền lực thông qua khoa cử chắc chắn sẽ dễ dàng khống chế cũng đỡ tốn kém hơn so với tổ chức chiến tranh.
Thời nhà Hán, để thỏa hiệp và xoa dịu các thể lực địa phương, chế độ kiểm tra, tiến cử đã được hình thành. Chế độ kiểm tra tiến cử nói một cách dễ hiểu là cho các thế lực địa phương cơ hội để tiến cử người vào bộ máy trung ương. Vì có được cơ hội như vậy, nên đã giảm được xu thế tách rời của các thế lực địa phương, đồng thời các thế lực muốn được phân chia quyền lực sẽ tự giác ổn định thế cục của mình, điều đó đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định chính trị quốc gia.
Người cai trị nhà Tần muốn đem bộ máy quốc gia vận hành như một cỗ máy, trong đó, vua sẽ là bộ não duy nhất điều khiển cả bộ máy, các bộ phận khác sẽ phải phục tùng mệnh lệnh, trở thành ốc vít, không cần phải có suy nghĩ của riêng mình.

Đặc biệt là dân chúng muốn nghị luận việc chính trị, dù là tán dương hay phê phán thì đều sẽ bị xử phạt nghiêm khắc.

Cho nên, ngoài trừ các loại sách như sách sử, sách luật, sách về nông nghiệp cùng các ngành nghề kỹ thuật khác, thì các loại sách khác đều không được phép tồn tại và lưu hành. Chính quyền trung ương yêu cầu người dân học hỏi các kỹ thuật từ quan lại. Nói chung là, với nhà Tần, người dân càng lao động chân tay nhiều, ít suy nghĩ thì càng là người dân tốt.

Đến thời nhà Hán, việc cấm người dân tham chính vẫn được tiếp tục duy trì. Chỉ là cách nhà Hán thống trị không dùng thủ đoạn tàn nhẫn như nhà Tần, cho nên dân chúng vẫn có được cuộc sống tốt đẹp hơn.

Tần Thủy Hoàng vừa qua đời, các tầng lớp trên của đất nước bắt đầu tàn sát lẫn nhau. Chỉ trong vòng ba năm, gia tộc họ Mông bị giết hại hàng loạt, hoàng tộc cũng bị tàn sát, gia đình Lý Tư cũng bị giết hại, các nguyên lão trọng thần dưới thời Tần Thủy Hoàng đều lần lượt biến mất, cuối cùng cả nhà Triệu Cao cũng bị giết hại.

Khi Doanh Tử Anh giành được thắng lợi sau hàng loạt cuộc thảm sát, sáu nước xưa kia đã sớm thoát khỏi tầm khống chế của nhà Tần, đội quân phản Tần được thành lập và sớm đã tiến vào phạm vi lãnh thổ nhà Tần. Cho nên, Doanh Tử Anh chỉ kịp làm vua 46 ngày đã phải đưa quân đầu hàng, nhà Tần rơi vào diệt vong.



Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất sáu nước, chia cả nước thành 36 quận. Đại bộ phận quân đội nhà Tần bị chia cắt, dời đến từng địa phương, trở thành một phần thuộc khu vực ấy.

Việc chia quân đến các quận huyện, dù sẽ giúp duy trì ổn định các địa phương, nhưng cũng không tránh được mặt hại. Bởi vì số lượng các quận huyện khá nhiều, quân đội cũng phải chia ra các nơi, cho nên số lượng quân đội các khu vực đơn vị lại khá ít, nếu phải đối mặt với số lượng đông đảo quân khởi nghĩa, sẽ không kịp tập hợp lại chống trả, ngược lại sẽ dễ dàng bị quân khởi nghĩa tấn công, từng bước bị tiêu diệt.
Có một người tên là Lư Sinh, ông tìm được cuốn "Lục Đồ Thư", nói rằng về sau nhà Tần sẽ bị người Hồ diệt. Cho nên, Tần Thủy Hoàng luôn coi Hung Nô ở phía Bắc là kẻ thù lớn nhất của nhà Tần, nên đã phái đại tướng quân Mông Điềm thống lĩnh ba mươi vạn binh mã, tu sửa Trường thành, chinh phạt Hung Nô.

Ba mươi vạn quân do Mông Điềm chỉ huy chính là quân chủ lực của nhà Tần, là đội quân tinh nhuệ nhất. Sau này, Mông Điềm bị Tần Nhị Thế và Triệu Cao sát hại, đội quân này do phó tướng Vương Ly thống lĩnh.

Về sau, khi quân khởi nghĩa khắp nơi nổi dậy, Tần tướng Chương Hàm tập hợp hơn mười vạn lao dịch, dàn trận chống lại quân khởi nghĩa. Sau đó, Chương Hàm thống lĩnh đội quân lao dịch, theo lệnh Tần Nhị Thế hợp lại với quân Trường thành do Vương Ly dẫn đầu, đem quân khởi nghĩa Triệu Địa bao vậy tại Cự Lộc. Các cánh quân khởi nghĩa khác nhanh chóng mang quân đến tiếp viện Triệu Địa, đánh bại quân Tần, Vương Ly tử trận, quân Trường thành bị tiêu diệt.

Đối phó với Gia Cát Lượng, Tư Mã Ý đã cất nhắc 1 người, quả nhiên người này về sau trở thành mãnh tướng, đánh cho Thục Hán diệt vong

Sự thất bại của Vương Ly và quân Trường thành là một đòn đả kích nghiêm trọng với nhà Tần, chứng minh nhà Tần không thể chống lại được nghĩa quân khởi nghĩa.
Tóm lại, khi dân chúng sáu nước phải trải qua chiến tranh hàng trăm năm, những vết thương còn lưu lại vẫn chưa lành hẳn, nhà Tần lại cai trị tàn bạo, sát muối lên vết thương của nhân dân, cùng với sự thối nát hủ bại của bộ máy chính quyền, chế độ trung ương tập quyền tiến hành vừa gấp gáp vừa ác liệt, khiến cho lòng dân oán than, cùng nhau nổi dậy chống lại triều đình.

Nhà Hán nối tiếp nhà Tần, kế thừa bộ máy chính trị nhà Tần, bao gồm chế độ quan liêu trung ương tập quyền, thể chế hành chính trung ương tập quyền (chế độ quận huyện).... nhưng việc kế thừa chỉ mang tính kế thừa tư tưởng, còn về cách làm lại có sự thay đổi to lớn, đồng thời phân chia thành các giai đoạn.

Từ những lý do và sự khác biệt ở trên, chúng ta không khó để hiểu được đâu là nguyên nhân khiến nhà Tần chỉ kéo dài qua hai đời vua, còn nhà Hán kế thừa sau lại có thể duy trì đến vài trăm năm.
 
Bên trên
Tắt Quảng Cáo